⏯️ (tiếp theo)
QUYỂN THỨ VI
CHƯƠNG BA - PHẦN CUỐI
-
Phần trước phá hai chấp, đoạn hết hai chướng đã xong.
-
Phần sau dẹp cả hai trí và cảnh để rõ vô trí vô đắc chia làm hai.
-
Phần thứ nhất dẹp cảnh sở quán, phần thứ hai dẹp trí năng quán. Trong phần thứ nhất lại chia hai, một dẹp cảnh sự, hai dẹp cảnh lý.
H₃ - Dẹp cả hai trí và cảnh để rõ vô trí vô đắc. Có 2
I₁ - Dẹp cảnh sở quán. Có 2
K₁ - Dẹp cảnh sự
💥 GIẢI
✅ Đoạn này lặp lại lời Phật dạy để đưa ra vấn nạn. Do đoạn trước Phật dạy Các pháp vốn tự vô tánh chỉ do vọng tưởng mà có tự tánh nên ở đây lặp lại. Đường dịch: Như Thế Tôn nói, do các thứ tâm phân biệt các pháp, chẳng phải các pháp có tự tánh, chỉ là vọng chấp thôi.
Câu này lặp lại lời Phật, câu sau căn cứ vào nghĩa để vấn nạn.
💥 GIẢI
✅ Đoạn này vấn nạn nhiễm tịnh đều không, thành lỗi đoạn diệt, sắp hiển bày vấn đề cảnh không trí có, ý muốn trước dẹp cảnh sự vậy.
Nhân Đại Huệ nghe Phật nói các pháp đều không tự tánh, chỉ là vọng tưởng thôi. Ý cho rằng nếu các pháp chỉ là vọng tưởng phân biệt, mà không có thật thể tướng đối đãi, thế thì tuyệt không có tánh của các pháp. Nếu quả là các pháp tuyệt không tự tánh, há chẳng là Thế Tôn cho rằng tập khí phiền não nhiễm ô của chúng sanh, cùng với Niết-bàn thanh tịnh của Như Lai thảy đều không tánh? Nếu nhiễm tịnh đều không, thì rơi vào lỗi đoạn diệt. Vì sao? Vì Thế Tôn nói tất cả pháp chỉ là vọng tưởng phân biệt không có thật thể, Đại Huệ bèn nghi cảnh không mà tâm cũng đoạn.
Câu sau Phật đáp vọng cảnh tuy không, thánh trí thật có.
💥 GIẢI
✅ Đoạn này nói Biến kế vốn không, Viên thành thật có, không rơi vào lỗi đoạn diệt.
Câu Như thế như thế là đưa ra lời xác nhận. Ý rằng nếu quả như Đại Huệ nói thì đó là lỗi đoạn diệt. Phật bảo, ta nói các pháp không tánh, là vì các pháp ấy xưa nay vắng lặng, chẳng phải như phàm ngu phân biệt cho là có thật. Đường dịch “Tất cả phàm ngu phân biệt các pháp, mà tánh các pháp chẳng phải có như vậy”. Đây chỉ là vọng chấp, không có tánh tướng, nên nói: Tự tánh vọng tưởng này, không có tướng của tánh tự tánh. Nghĩa là các pháp này chỉ là vọng tưởng phân biệt cho là có tự tánh, kỳ thật không có tướng tánh tự tánh như chỗ phân biệt kia đâu.
Nói các pháp không tánh ấy là chỉ không có vọng tưởng biến kế, há tuyệt không có chân tánh ư? Vả lại như tự giác thánh trí thật có tánh tự tánh. Đây là thánh trí, thánh kiến thánh huệ nhãn, thấy rõ biết rõ có tánh tự tánh, chẳng phải hoàn toàn không, cái gì là đoạn diệt? Đây là Y tha và chấp biến kế thì không, mà Viên thành thật có, chỉ là tướng có tánh không, tình có lý không vậy. Nên luận nói: Do các thứ biến kế, biến kế trên mọi vật. Biến kế sở chấp này, tự tánh không thật có, tự tánh của Y tha, do duyên phân biệt sanh, Viên thành đối việc này, thường lìa hai tánh trước.
💥 GIẢI
✅ Đây nhân đoạn trên nói có thánh trí, nên trở lại vấn nạn Thế Tôn cũng rơi vào lỗi chấp có, đây là nạn vấn tự ngữ tương vi.
Ý của Đại Huệ cho rằng nếu ngoài vọng tưởng, quả có việc thánh trí, chấp nhận thánh tri thánh kiến huệ nhãn biết rõ thấy rõ, song chẳng phải thiên nhãn nhục nhãn có thể biết có thể thấy, mà lại chẳng phải cảnh giới vọng tưởng của ngu phu. Thế là người ngu có người lìa vọng tưởng, cũng có thể chấp nhận tri kiến của họ được. Vì sao người ngu lìa vọng tưởng lại không biết về thánh tánh? Đây là ý của Đại Huệ cho rằng Nhị thừa thuộc về hạng người ngu lìa được vọng tưởng, tại sao Thế Tôn từng trách các vị ấy không thấy Phật tánh? Ý nạn vấn về tự ngữ tương vi.
Sau đây, lần lượt đưa ra năm điều nạn vấn, để thành lập lỗi chấp có.
💥 GIẢI
Nạn vấn phàm thánh không phân biệt.
Chẳng điên đảo là thánh nhân, chẳng không điên đảo là người ngu. Ý Đại Huệ rằng: Nếu thánh trí thật có mà chẳng phải là cảnh giới tri giác, thì phàm ngu bất tri cũng có thể gọi là thánh nhân ư? Nên nói họ cũng chẳng điên đảo. Song phàm ngu hiện tiền bất giác, không thể thấy rõ, thì họ cũng là chẳng không điên đảo. Vì sao nói như thế? Vì đã nói có thánh trí mà không phải là cảnh sở tri, nay phàm ngu đối với sở tri đã chẳng biết không thể gọi là phàm; có mà không năng tri, thì không thể gọi là thánh. Điều này rơi vào lỗi phàm thánh chẳng phân.
💥 GIẢI
✅ Đây nạn vấn thánh nếu có thấy cũng rơi vào phàm tình.
Ý rằng: Phàm ngu chấp trước lấy tự cảnh giới làm cảnh giới, thánh nhân trí chiếu không giống phàm ngu, nên nói thánh cũng không thấy như vọng tưởng. Sở dĩ không giống, vì không dùng tự cảnh giới làm cảnh giới. Nay nếu thánh nhân thật có thánh trí để làm tự cảnh giới, thì không khỏi chấp trước. Đó gọi là, nếu còn thánh giải tức rơi vào phàm tình thì cũng đồng phàm ngu vọng kiến. Sở dĩ thánh cũng giống phàm là vì thánh trí ấy chấp cảnh giới có tự thể; vì chấp nhận việc biết rõ thấy rõ. Lại nếu đã có thể biết thấy, ắt cũng giống như cảnh giới vọng tưởng của phàm ngu. Nên nói: Kia cũng vọng tưởng về tướng tánh tự tánh, tự tánh như thế hiện. Kia, chỉ cho cảnh giới thánh trí. Vì sao? Vì trong Phật pháp không luận có nhân không nhân, chỉ có tri kiến, tức rơi vào pháp có. Nay thánh trí đã có tri kiến, há không giống với vọng kiến của phàm phu ư? Nên nói: Nghĩa là vì rơi vào kiến chấp tánh tướng.
Trên lập nạn vấn, dưới chỉ lỗi.
💥 GIẢI
✅ Đây giải thích nghĩa câu nạn vấn trên để thành lập lỗi.
Nghĩa là cảnh giới phàm phu các thứ sai biệt, không thể so sánh với cảnh giới thánh trí bình đẳng nhất như. Nên nói: Cảnh giới khác, chẳng phải như những cảnh giới kia. Ý rằng dù chấp nhận cảnh giới thánh trí giống với phàm phu, vậy là rơi vào lỗi nhiều nhân mà chỉ có một quả. Như thế nhiều nhân khác nhau mà chỉ cho một quả, thì nhân quả không phân, phá hoại tướng tam giới, chịu cái lỗi vô cùng. Vì sao? Vì nhân quả hỗn loạn phá hoại tướng các pháp, nên nói vì không biết tướng tánh tự tánh (không biết cũng có nghĩa là không phân biệt).
💥 GIẢI
✅ Đây căn cứ vào đoạn trước nói “vọng tưởng vô tánh, thánh trí hữu tri” để lập nạn vấn.
Ba câu trên, nạn vấn chung về không có cảnh sở tri. Một câu này, nạn vấn về không có tâm năng tri. Đại Huệ nhân Thế Tôn nói vọng tưởng vô tánh, lại nói như thật mà biết vọng tưởng vô tánh gọi là thánh trí. Ý rằng vọng tưởng sở dĩ vô tánh, vì không biết tướng tánh tự tánh. Nếu không biết tướng tánh tự tánh thì tự tánh vọng tưởng cũng không nhân nơi tướng tánh tự tánh của các pháp mà có. Nên nói tự tánh vọng tưởng chẳng phải nhân tướng tánh tự tánh.
Song vọng tưởng đã không, nhân nơi các pháp mà có, là không có cảnh sở tri. Đã không có cảnh sở tri thì không có tâm năng tri, đã không có tâm năng tri, thì thánh trí cũng vô tri. Há cái vô tri của thánh trí lại có thể phân biệt nơi vọng cảnh không thể phân biệt, mà nói thánh trí như thật biết vọng tưởng ư? Nên nói Kia vì sao nơi vọng tưởng chẳng phải vọng tưởng mà như thật biết vọng tưởng? Kia chỉ thánh trí. Ý nạn rằng: Nếu có cảnh để biết thì vọng tưởng không phải là vô tánh; nếu không có cảnh để biết thì thánh trí không phải là hữu tri; đã hữu tri tức chẳng phải chân tri. Chẳng phải chân tức là vọng, vọng thì không như thật biết, vì sao Thế Tôn nói có thánh trí như thật biết vọng tưởng.
✅ Đây là tâm cảnh đều có, tấn thối đều phi, lại rơi vào tự ngữ tương vi, đó gọi là chuốc lỗi vô cùng vậy.
💥 GIẢI
✅ Đây nhân đoạn trên nói thánh trí như thật biết vọng tưởng, để nạn vấn về chân vọng một khác.
Ý rằng thánh trí chỉ là một chân thật không hai, vọng tưởng là tâm cảnh nhiều thứ nên nói tướng vọng tưởng khác, tướng tự tánh khác. Sở dĩ vọng tưởng nhiều thứ sai biệt nhân vì các pháp có nhiều sai biệt; vì tâm nhân cảnh mà có. Đã nhân các thứ cảnh mà có các thứ tâm, mỗi mỗi vọng tưởng phân biệt mỗi mỗi pháp, nên nói: Vọng tưởng tự tánh tướng chẳng có nhân giống nhau.
Vọng tưởng tâm cảnh đã mỗi mỗi không giống, mà thánh trí chỉ là một, chỉ có thể chiếu một cảnh thôi, vì sao nơi mỗi mỗi tâm cảnh chẳng vọng tưởng mà nói như thật biết ư? Nếu thánh trí biết rõ thấy rõ mỗi mỗi tâm cảnh mà cho đó là biết như thật, thì người ngu phân biệt mỗi mỗi tâm cảnh đáng lẽ cũng là biết như thật. Vì sao lại nói người ngu không biết như thật? Nếu thánh trí quả như thật mà biết vọng tưởng, thì thánh trí thật có, mà vọng tưởng tâm cảnh cũng thật có. Cớ sao Thế Tôn lại vì muốn khiến chúng sanh lìa vọng tưởng, nói tướng vọng tưởng của chư pháp không có như thật?
Đoạn trước nạn vấn thánh trí nếu có biết thì thánh rơi vào phàm tình, đây nạn vấn vọng tưởng nếu như thật biết thì phàm ngu đồng thánh giải. Chẳng những chân vọng chẳng phân, còn rơi vào chỗ nhiều lỗi. Vì sao? Nếu thánh trí có thật thì rơi vào hữu kiến, nếu vọng tưởng không thật có, thì lại rơi vào lỗi tự ngữ tương vi vì thánh trí như thật biết vọng tưởng.
Thế Tôn! Vì sao ngăn chúng sanh chấp trước về kiến chấp sự tự tánh Có Không, mà lại chấp trước cảnh giới thánh trí, rơi vào hữu kiến.
✅ Đây nhân hai nạn vấn trên kết luận Thế Tôn cũng rơi vào lỗi hữu kiến.
Nghĩa là Thế Tôn nói thánh trí là thật có, ắt rơi vào lỗi chấp có. Vì sao Thế Tôn chỉ ngăn chúng sanh đối với kiến chấp Có Không, không cho chấp trước sự tự tánh, mà trở lại sanh chấp trước nơi cảnh giới sở hành của thánh trí, rơi vào hữu kiến ư?
Nói pháp không, chẳng phải tánh, mà nói việc thánh trí tự tánh.
✅ Đây là tổng kết năm câu hỏi, để thành lập Thế Tôn cũng rơi vào nhị kiến có không.
Nghĩa là Thế Tôn nói các pháp vọng tưởng không, vô tự tánh, là rơi vào không; nói về tự tánh thánh trí là rơi vào có. Thế là Thế Tôn cũng rơi vào hai kiến chấp có không. Vì sao chỉ ngăn chúng sanh thôi?
Năm nạn vấn trên là điều nghi của thường tình, là theo lời mà chấp nghĩa. Đại Huệ thương xót việc này, nên dự kiến lập nạn vấn, mong đức Thế Tôn giảng kỹ, để dẹp trừ cái nghi tối tăm. Đâu phải Đại Huệ ngu muội mà khởi lên các thứ lầm chấp, phàm các nạn vấn, ý đều kể ra ở đây, người xem nên biết.
Phật bảo: Đại Huệ! Chẳng phải ta nói pháp không, chẳng có tánh, ta cũng không rơi vào kiến chấp hữu mà nói việc thánh trí tự tánh, chỉ vì muốn chúng sanh lìa sợ hãi. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay chấp trước về tánh, tự tánh tướng, chấp trước về kiến tướng của thánh trí tự tánh, nên ta nói pháp không.
Đại Huệ! Ta không nói tướng tánh tự tánh.
Phần này và phần văn sau, đáp chung ý năm câu nạn vấn.
Bởi vì Đại Huệ tuy đưa lần lượt có năm câu hỏi, mà ý chánh chỉ nạn vấn Thế Tôn cũng rơi vào kiến chấp có không. Nên ở đây Thế Tôn đáp rằng: Ta nói pháp không, không rơi vào vô kiến, nói có thánh trí cũng không rơi vào hữu kiến. Sở dĩ ta nói việc thánh trí tự tánh, là vì chúng sanh nghe nói các pháp không tánh, bèn khởi lên sợ hãi đoạn diệt, nên ta nói thánh trí sự là thật có, chỉ muốn chúng sanh lìa nỗi sợ đoạn diệt thôi, chẳng phải ta rơi vào kiến chấp Có.
Còn sở dĩ ta nói các pháp không, là vì chúng sanh từ xưa đến nay vọng chấp các pháp, chấp có tánh tự tánh tướng, mà đối với thánh trí lìa tướng cảnh giới, cũng chấp cho là tướng kiến, vọng sanh chấp trước.
Nên ta nói pháp không, khiến kia xa lìa hai kiến Có Không, chẳng phải ta rơi vào kiến chấp không. Điều ta nói, không những nói pháp sanh tử không tự tánh mà thánh trí sự cũng không tự tánh tướng, nên nói ta không nói tướng tánh tự tánh.
✅ Đây chính là “Hoặc có hoặc không có, cả hai thảy đều lìa”. Văn sau nói.
Đại Huệ! Ta chỉ trụ như thật tự đắc pháp không, lìa kiến tướng hoặc loạn, lìa kiến chấp tự tâm hiện tánh phi tánh, được tam giải thoát như thật ấn sở ấn, ở nơi tánh tự tánh được duyên tự giác quán sát trụ, lìa kiến tướng Có Không.
✅ Đây tổng kết ý đáp, để hiển bày ngôn ngữ chẳng sanh tâm.
Nghĩa là ta chẳng nói các pháp nhất định là có hay nhất định là không, mà chỉ nói chỗ trụ của ta là pháp tự đắc như thật chứng, khiến họ nghe rồi, lìa các kiến tướng vọng tưởng hoặc loạn, không sanh e sợ, thấy được cảnh giới chân như vô tướng. Biết chỗ thấy kia ngoài tâm không pháp, nên nói lìa tự tâm hiện tánh phi tánh, ngộ được ba môn giải thoát, được ấn như thật để ấn định các pháp. Bởi dùng tự giác thánh trí quán sát, thấy tự tánh của pháp, xa lìa tất cả chấp trước về Có Không, nên nói ở nơi tánh tự tánh được trụ vào duyên tự giác quán sát, lìa mọi kiến tướng có không. Ta nói pháp là vì khiến chúng sanh như thế mà thôi, chẳng phải ta rơi vào kiến chấp Có Không.
Kinh Tịnh Danh nói “Thuyết pháp chẳng có cũng chẳng không. Do nhân duyên nên các pháp sanh”. Vì Như Lai thuyết pháp ứng cơ phá chấp, vốn không có pháp nhất định.
✅ Đây là nghi thức thuyết pháp của ba đời chư Phật.
-
Trên dẹp cảnh sự sở quán xong.
-
Dưới dẹp cảnh lý sở quán.
K₂ - Dẹp cảnh lý sở quán
Lại nữa Đại Huệ! Tất cả pháp bất sanh, Đại Bồ tát không nên lập tông 1 này.
✅ Đây nói tất cả các pháp vốn tự vô sanh, ý răn người nghe không nên khởi kiến chấp, để hiển bày dứt cảnh. Thế Tôn đặc biệt chỉ dụ như thế, mãnh liệt mà cáo thị, ý rất sâu xa. Bởi tất cả ngoại đạo nhị thừa đều rơi vào lưới kiến chấp sanh diệt, không thể ra khỏi, nên Thế Tôn của ta trên hội Lăng-già, riêng hiển bày vô sanh để phá sanh kiến của họ. Quyển đầu tiên là hiển lý rốt ráo, đặc biệt nói “không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh”. Dạy rằng phải nên y cứ vào nghĩa, đừng chấp trước ngôn thuyết để kết thúc chỉ bày. Rồi đến Đại Huệ không thể lìa tướng ngôn thuyết, lại đưa các nghi nạn về ngôn thuyết đệ nhất nghĩa… cho đến tiếng “Thường”, để thỉnh vấn. Phật dùng vô sanh như huyễn trả lời vấn đề.
Đại Huệ lại nghi Phật tự ngữ tương vi, Thế Tôn đặc biệt chỉ dạy, dùng danh cú hình thân vốn không tự thể, để hiển bày chỗ nói mà không nói của Như Lai. Ngài sợ họ không thông đạt nghĩa “Bất thuyết”, lại dùng bốn thứ ký luận dạy bảo rõ ràng, nhân đó chỉ thẳng nói rằng: Tất cả pháp chẳng sanh không cho khởi kiến chấp, để hiển bày tướng lìa ngôn thuyết.
✅ Đây là Thế Tôn hết sức vì người bày tỏ tâm can rồi.
Đại Huệ! Rốt cuộc sanh diệt chẳng tiêu, lớp lớp khởi kiến. Thế tôn lại thêm lớp lớp phá trừ, cho đến trên đây lại dùng tương tục giải thoát để thỉnh vấn, Thế Tôn đáp rằng: Tất cả tương tục chẳng sanh, vốn không có tương tục chẳng tương tục. Đến đây chẳng những kiến chấp sanh diệt khô cạn, còn muốn thánh phàm tình tận, có thể nói là đầu sào trăm trượng lại tiến thêm một bước. Song Đại Huệ vẫn còn mờ mịt, thậm chí nghi Phật cũng rơi vào hai kiến chấp Có Không. Thế Tôn đáp rằng ta tuy nói Có, Không mà chẳng rơi vào Có, Không vì ý chẳng tại lời. Ta thuyết pháp dùng ấn như thật mà ấn định các pháp để hiển thị ngôn ngữ chẳng sanh tâm. Đến đây ý chỉ vô sanh rõ ràng như trắng đen.
Thế Tôn thương cho người nghe rơi vào chỗ theo lời sanh hiểu, ắt là chấp vô sanh cho là thật có, lập ra quyết định có một chủ ý vô sanh mà khởi lên kiến chấp, như thế lại rơi vào ngoại đạo tà kiến. Nên ở chỗ cấp bách này một phen nêu ra, mãnh liệt dặn dò: Ta nói tất cả pháp bất sanh, các đệ tử ta không nên lập tông ấy. Do trong pháp này vừa có mảy may ý kiến, liền rơi vào sào huyệt của sanh tử, tức là hàng ngoại đạo trong Phật pháp. Thế nên Lục tổ nói với Vĩnh Gia rằng:
Ông rất được ý vô sanh. Vĩnh Gia hỏi:
Vô sanh há có ý sao? Tổ nói:
Không ý thì ai đang phân biệt đây. Vĩnh Gia nói:
Phân biệt cũng chẳng phải ý. Tổ nói:
Như thế như thế.
Vì sao? Vì tông tất cả tánh phi tánh, và vì nhân sanh tướng.
✅ Đây giải thích chỗ lập tông bất sanh của ngoại đạo có hai lỗi.
Nghĩa là lối chấp của ngoại đạo không ra khỏi nhị kiến đoạn thường, cho nên chỗ lập tông bất sanh có hai: Một là vọng chấp các pháp tuyệt nhiên đoạn diệt, cho đó là bất sanh, nên nói: Tất cả tánh phi tánh.
✅ Đây là Đoạn kiến.
Hai là chấp riêng có Dị nhân hay sanh các pháp, cho đó là Tác giả. Như ở Trung Hoa, Trang Chu nói: “Sanh sanh giả bất sanh”, cho là cái bất sanh hay sanh vạn pháp, chính như ở Ấn Độ hàng ngoại đạo nói: “Tác giả bất sanh là sanh nhân”.
Nghĩa là nếu họ nói Bất sanh đã là sanh nhân, nhân này tức là sanh tướng, nên nói: Và vì nhân sanh tướng.
✅ Đây là Thường kiến.
Cả hai đều không ra khỏi lưới sanh tử nên Thế Tôn răn bảo không nên lập tông này, chỉ vì sợ đồng với kiến chấp của ngoại đạo.
Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Chẳng phải mỗi mỗi vọng tưởng lập tông tất cả pháp bất sanh ư? Vì tông nghĩa ấy có nơi tất cả tánh.
✅ Đây vấn nạn về lẽ chân vọng không khác.
Đại Huệ vấn rằng: Chư Phật Bồ tát và hàng ngoại đạo tuy đồng nói bất sanh, song ngoại đạo thì do vọng tưởng mỗi mỗi phân biệt mà lập ra tông này; Phật Bồ tát thì do duy tâm hiện lượng quán thấy tánh của tất cả pháp vốn tự vô sanh mà lập ra tông này. Ý rằng năng lập của phàm và thánh dù khác, mà cái sở lập “Bất sanh” này đều có nơi tánh của tất cả pháp, như vậy thánh cũng đồng với vọng tưởng của phàm ư? Nghĩa là phàm thánh chẳng khác. Đường dịch: “Thế Tôn! Há chẳng phải do mỗi mỗi phân biệt lập tất cả pháp bất sanh ư?”
Sau đây Phật đáp, tuy lời nói giống nhau mà tâm chấp khác nhau.
Phật bảo Đại Huệ: Nếu lập tông tất cả pháp bất sanh, thì tông ấy bị phá. Vì sao? Vì宗 là thành lập, nghĩa tông có nơi tất cả tánh, vì lời lập tông sanh.
✅ Đây đáp về lỗi lập tông thì rơi vào sanh tướng.
Lại vì tông bất sanh của họ vào tất cả pháp. Vì tướng bất hoại bất sanh, lập tông tất cả pháp bất sanh, thuyết ấy ắt hoại.
✅ Đây chỉ ra lý do tông kia có lỗi, dùng chánh pháp giản trạch.
Bởi tông họ sở dĩ hoại, vì chỗ lập tông bất sanh rơi vào có không, đoạn thường… tất cả pháp. Vả lại tất cả pháp đều là sanh diệt vô thường, mà họ y cứ vào có không để lập tông. Kỳ thật khi pháp chưa sanh, tuy họ nói bất sanh mà nghĩa thật sanh, nên rơi vào lỗi tự giáo tương vi, là trái tự tông. Vì thế nói Vì tông bất sanh kia vào tất cả pháp.
Nếu dùng chánh pháp giản trạch thì pháp của ta dùng tướng bất hoại làm bất sanh, dùng sanh tức vô sanh. Còn họ dùng tướng hoại làm bất sanh, song đã là tướng hoại là vô thường, há thật là vô sanh ư? Bởi tướng hoại của họ dùng đoạn diệt làm bất sanh, là hoại sanh tướng, dùng bất sanh làm năng sanh, là hoại tướng bất sanh. Nay dùng tướng bất hoại của ta để phân biệt, nên chỗ họ lập tông “Tất cả pháp bất sanh”, thuyết của họ ắt hoại, vì vọng chấp của họ không ra khỏi sanh pháp hữu vô. Văn sau nêu ra lý do.
Đại Huệ! Tông hữu vô bất sanh, tông kia vào tất cả tánh, tướng có không không thể được.
✅ Đây nói lý do tông kia hoại.
Nghĩa là ta nói tông kia ắt là hoại, do họ chấp hữu, vô đều bất sanh, nên y cứ vào đó mà lập tông. Vì tất cả pháp sanh diệt không ra ngoài hữu vô, thế là chỗ lập tông của họ tức vào trong tất cả pháp. Vả lại các pháp vốn không, dù có dù không đều chẳng thể được, thì họ y cứ vào nơi đâu mà lập tông? Cho nên ta nói tông họ ắt hoại.
Đường dịch: “Tông của họ pháp có pháp không đều bất sanh, tông này tức vào trong tất cả pháp, vì tướng có tướng không cũng bất sanh”. Cũng bất sanh nghĩa là dù có dù không cũng vốn chẳng có.
Đại Huệ! Nếu khiến tông bất sanh ấy, tất cả tánh chẳng sanh mà lập tông. Nếu như thế tông kia hoại, vì tánh tướng có không chẳng sanh. Không nên lập tông vì năm phần luận nhiều lỗi, vì nhân triển chuyển tướng khác, và vì tạo tác, không nên lập tông phần.
✅ Đây dùng nhân tướng trong chánh giáo giản trạch tông tà để thành lập lỗi kia, kết thúc nghĩa không chấp nhận lập tông.
Chữ nếu khiến cũng là giả sử. Phật nói rằng, giả sử tông của họ y cứ tất cả tánh mà lập tông, như thế thì tông họ tự hoại, vì tất cả pháp tánh tướng có không vốn tự bất sanh.
Do tất cả pháp vốn tự vô sanh, cần gì lại dùng sự lập tông của họ? Cho nên họ không nên y cứ vào đó mà lập tông.
Bởi vì chỗ lập tông của họ, nếu dùng năm phần luận trong chánh giáo nhân minh để xem xét, thì họ phạm nhiều lỗi. Vì nhân tướng triển chuyển cùng tông không hợp, vì có nhiều tướng khác, không những nhân cùng với tông chẳng hợp, mà tự thể của tông cũng chẳng thành tựu. Vì sao? Vì họ chấp tác giả là bất sanh. Thế nên ta nói, dạy các đệ tử đối với nghĩa bất sanh không nên lại lập tông phần.
Năm phần luận nhiều lỗi ấy là: Năm phần là Tông - Nhân - Dụ - Hợp - Kết. Nhiều lỗi là Tông có chín lỗi, nhân có mười bốn lỗi, Đồng dụ có năm lỗi, Dị dụ có năm lỗi, cộng lại ba mươi ba lỗi. Ngoại đạo lập có ba chi. Nếu đem chánh pháp để giản biện, thì dù chỉ còn một lỗi chưa phá cũng thuộc tông tà. Vì đem Nhân Dụ để lập thành tông thể, nên nhân không chuyển dụ không hợp, đều không thành tông. Nên nói vì nhân triển chuyển tướng khác, và vì sở tác, thành ra nhiều lỗi. Vì vậy không nên lập tông. Nghĩa của năm phần đầy đủ trong Nhân Minh nhập chánh lý luận, vì nghĩa rộng, sợ phiền không nêu ra đầy đủ. Biết điều này, thì có thể định được cương tông của Phật pháp, xô dẹp tà kiến. Người đọc nên tham khảo luận kia, biết được ý chỉ.
Cho rằng tất cả pháp bất sanh, như thế tất cả pháp không, như thế tất cả pháp vô tự tánh, không nên lập tông.
✅ Đây là tổng kết nghĩa trước.
Trước đã nói không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh tướng, nay nói bất sanh đã chẳng nên lập tông, thì hoặc không, hoặc vô tánh đều chẳng nên lập tông.
Vì chỉ có ngôn thuyết, đều không thật nghĩa, phàm có phân biệt, đều chẳng phải tri kiến như thật.
Đại Huệ! Song bậc đại Bồ tát nói tất cả pháp như huyễn mộng, vì tướng hiện và chẳng hiện, và vì lỗi thấy giác tưởng.
Nên nói tất cả pháp như tánh huyễn mộng. Trừ vì người ngu lìa khủng bố.
Đại Huệ! Người ngu rơi vào kiến chấp có không, chớ khiến họ kinh sợ, xa lìa đại thừa.
✅ Đây là Như Lai dạy các Bồ tát nghi thức thuyết pháp.
❓ HỎI:
Bồ tát ở nơi pháp bất sanh đã chẳng nên lập tông, phải nói những pháp nào?
📣 ĐÁP:
Bồ tát nên nói tất cả pháp như huyễn mộng, vì hiện và chẳng hiện. Huyễn mộng tuy hiện kỳ thật chẳng hiện, ý hiển bày các pháp tuy sanh kỳ thật vô sanh.
Các pháp vốn tự bất sanh, mà hiện có sanh ấy, chẳng phải sanh, chỉ là lỗi vọng kiến giác của chúng sanh, vọng thấy có sanh.
Nên phải nói tất cả pháp như tánh huyễn mộng, không thể nói tất cả pháp thật có bất sanh. Song cũng có khi nói bất sanh, vì khiến phàm phu lìa sợ hãi, bất đắc dĩ dùng bất sanh để đoạn kiến chấp sanh của họ. Vì tất cả pháp bất sanh, chẳng cho có nói năng, khởi tâm động niệm tức rơi vào sanh tử.
Song vì ngu phu nói bất sanh, nhân ngu phu một bề chấp chặt pháp thật có thật không, nay chỉ nghe nói như huyễn như mộng liền sanh sợ sệt, ắt xa lìa Đại thừa, đoạn mất hột giống Phật.
Nếu như chẳng dùng câu “bất sanh” tùy cơ mà khai đạo họ, thì đối với Phật pháp tuyệt phần, mà Bồ tát cũng mất từ bi, nên nói “Người ngu rơi vào kiến chấp có không, chớ khiến họ kinh sợ, xa lìa Đại thừa”.
Bồ tát thuyết pháp như thế, thì được tướng nhị thông.
Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:
Không tự tánh, không thuyết
Không sự, không tương tục
Người ngu kia vọng tưởng
Như tử thi, ác giác.
(Đường dịch: Nên biết như tử thi)
Tất cả pháp bất sanh
Chẳng phải tông ngoại đạo
Đến tột không chỗ sanh
Tánh duyên được thành tựu.
Tất cả pháp bất sanh
Người trí không nên tưởng
Vì tông kia nhân sanh
Người trí thảy trừ diệt.
✅ Đây tụng chung về năm nạn vấn, không, vô sanh, vô tự tánh, vốn lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, để rõ ngoại đạo không nên lập tông.
Không sự tức là không, vì các pháp vốn không, nên không tương tục, vì người ngu vọng tưởng ở nơi chẳng thật chấp là thật. Ác giác như thế, như thây chết vô tri, chỉ luống tăng thêm ô uế thôi. Thế là không, vô tự tánh, không thể nghĩ bàn, nghĩa “bất sanh” há cho phép ngoại đạo vọng chấp mà nêu tông chỉ ư? Do họ lập “bất sanh” đến chỗ pháp rốt ráo đoạn diệt không chỗ sanh, do không hiểu được duyên sanh vô tánh, vô tánh duyên sanh nên nói đến tột không chỗ sanh. Chữ “tánh” trong câu tánh duyên được thành tựu nghĩa bao trùm cả câu trên.
Bản Đường dịch: “Do kia có chỗ sanh, vì chẳng do duyên thành”. Bởi ý nghĩa tất cả pháp bất sanh, chỉ có bậc trí quên tâm thầm hợp mà thôi, không nên khởi tưởng. Huống gì tông kia, nhân nơi sanh tướng mà thành lập, không phải thật là “bất sanh” nên nói Người trí thảy trừ diệt. Vì bất sanh của họ cũng là sanh tướng.
Giống như người nhặm mắt Thấy lầm có tóc rủ Chấp trước tánh cũng thế Người ngu vọng tưởng tà. Lập bày nơi ba cõi Không có sự tự tánh Mà lập sự tự tánh Suy nghĩ khởi vọng tưởng. Tướng sự lập ngôn giáo Ý rối loạn xao động Phật tử hay vượt thoát Xa lìa các vọng tưởng.
✅ Đây tụng các pháp vốn không, mà chỉ vì vọng tưởng thấy có, để răn đệ tử Phật không nên khởi kiến.
Trong hư không vốn chẳng vòng tóc, do mắt bệnh mới có, để dụ cho trong mé chân vốn không có các pháp ba cõi, nhân do vọng tưởng chấp trước. Người ngu chỉ chấp giả danh, loạn động tâm thức, bậc đầy đủ tri kiến chân chánh nên xa lìa vậy.
Đường dịch: “Ba cõi chỉ giả danh, không có pháp thể thật. Do đây giả lập bày, phân biệt vọng chấp trước, các sự tướng giả danh, làm rối loạn tâm thức, Phật tử thảy lìa lỗi, dạo chốn vô phân biệt”.
Chẳng phải nước tưởng nước
Đây từ khát ái sanh Người ngu lầm như thế
Bậc Thánh không như vậy. Thánh nhân thấy thanh tịnh
Sanh giải thoát tam-muội Xa lìa nơi sanh diệt
Dạo chốn vô sở hữu. Tu hành vô sở hữu
Cũng không tánh phi tánh Tánh phi tánh bình đẳng
Từ đây sanh Thánh quả.
✅ Đây tụng nói về tướng ba cõi không khác mà cái thấy của Thánh phàm có khác.
Bởi ba cõi vốn không có thật pháp mà người ngu vọng thấy là thật có, như nắng lòa chẳng phải nước mà khởi tưởng nước, là từ khát ái sanh. Người ngu như thế, Thánh trí há cũng như vậy ư? Do thánh kiến thanh tịnh nên thấy ba cõi rỗng rang không một vật, ngay đây liền chứng Giải thoát tam-muội, xa lìa sanh diệt.
Đường dịch: Thường hành cảnh vô tướng, tu hành cảnh vô tướng, cũng lại không hữu vô, có không thảy bình đẳng, cho nên sanh thánh quả.
Do phàm phu chỗ thấy sai biệt, nên có nghiệp quả tiếp nối. Thánh nhân thấy ba cõi không khác nên sanh Thánh quả. Vì vậy kinh nói: Chẳng như ba cõi mà thấy ba cõi.
Thế nào tánh phi tánh?
Thế nào là bình đẳng?
Vì tâm kia không biết
Trong ngoài rất phiêu động.
Nếu hay hoại điều đó
Ắt tâm thấy bình đẳng.
Bài tụng này giải thích nghĩa trên, để nói rõ thánh phàm bình đẳng. Nghĩa là ba cõi là một, vì sao phàm ngu thấy có thấy không, vì sao thánh nhân thấy bình đẳng? Vì người ngu kia không rõ ba cõi vốn không, vọng chấp tâm cảnh cho là thật có, nên trong ngoài rất phiêu động. Nếu có thể biết rõ điều này, thì ngay đó bình đẳng. Bình đẳng là tên khác của tịch diệt. ghĩa là chưa thấu đạt cảnh duy tâm, khởi lên các thứ phân biệt, thấu đạt cảnh duy tâm rồi, phân biệt liền chẳng sanh.
-
Trên dẹp cảnh sở quán xong.
-
Dưới dẹp trí năng quán.
I₂ - Dẹp trí năng quán.
Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Như Thế Tôn nói như việc phan duyên trí huệ chẳng được, là lượng lập bày sắp xếp dựng lập. Sở nhiếp thọ phi tánh, năng nhiếp thọ cũng phi tánh, vì không nhiếp thọ nên trí chẳng sanh, chỉ lập bày danh tự thôi. (Đường dịch: Như Phật nói, nếu biết cảnh giới chỉ là giả danh đều không thể được, thì không sở thủ, vì không sở thủ nên không năng thủ, vì năng thủ sở thủ cả hai đều không, không khởi phân biệt gọi đó là trí).
Trên biện biệt vọng tưởng vô tánh rồi, đây Đại Huệ lý luận về việc Phật một phen nói cảnh giới thánh trí, để phân biệt thánh trí vô tri.
Ngụy dịch: “Như Thế Tôn nói trí huệ quan sát không thể thấy cảnh giới các pháp hiện tiền, cho đến như thật giác tri, không pháp sở thủ, cũng không năng thủ. Cho nên trí cũng không thể phân biệt mà nhận biết”, nên nói trí ắt chẳng sanh. Bởi việc phan duyên là cảnh giới hiện tiền, các pháp là tướng. Đoạn trước nói được tướng bất đắc là trí, trí sở dĩ là tướng bất đắc, vì tất cả cảnh giới chỉ là vọng tưởng thi thiết lập bày, vốn không có tánh năng thủ sở thủ.
Đã không có cảnh để nhận, dù có chân trí, thì phân biệt được cái gì mà nhận biết? Nên nói vì không nhiếp thọ nên trí chẳng sanh. Há chẳng biết cảnh giới vọng tưởng như bóng tối, trí huệ như ánh sáng, sáng tới thì tối tự lui, chẳng phải có tối cùng với sáng đối đãi. Cho nên nói thánh trí vô tri, là vì không có cảnh được biết, thì trí biết cảnh cũng mất. Vì không có tướng năng thủ sở thủ nên nói chẳng được tướng.
Đó là “Duy chỉ riêng còn trí như như, chẳng phải tuyệt nhiên vô tri”. Như thế, tự hồ Đại Huệ không biết được ý nghĩa tướng thánh trí bất đắc, cho là có cảnh và tướng đối đãi nhau. Vì sao bất đắc? Ắt cho là biết cảnh mới gọi là trí. Nên ở đây khởi nghi, nêu lại nghĩa trước để vấn nạn.
Phần sau đặt nghi vấn.
Thưa Thế Tôn! Vì sao? Vì là tánh bất giác tự tướng cộng tướng khác và chẳng khác nên trí bất đắc ư? Vì là tự tướng cộng tướng các thứ tánh tự tánh tướng ẩn dấu nên trí bất đắc ư? Vì núi non vách đá, đất nước lửa gió chướng ngại nên trí bất đắc ư? Vì quá gần quá xa nên trí bất đắc ư? Vì già trẻ mê mờ các căn chẳng đủ nên trí bất đắc ư?
✅ Đây đặt nghi vấn.
Câu tánh bất giác… nghĩa là hoàn toàn không biết cảnh giới kia. Tự tướng… ẩn dấu, cũng nói là ẩn mất chẳng hiện, nghĩa là hoàn toàn không có cảnh khả tri làm đối đãi. Núi vách… chướng ngại nghĩa là biết không thấu triệt. Quá xa sức con mắt khó thấu, quá gần nhỏ nhiệm khó biết. Các căn chẳng đủ là đui điếc không biết, già trẻ là không thể biết rõ tường tận mỗi pháp. Đại Huệ nghi về tướng trí bất đắc là đều do năm việc này mà bất đắc ư? Dưới đây gạn hỏi.
Thế Tôn! Nếu vì bất giác tự tướng cộng tướng khác chẳng khác mà trí bất đắc thì không nên gọi là trí, mà gọi là vô trí, vì có việc chẳng được.
✅ Đây là một nạn vấn.
Nghĩa là nếu hoàn toàn không biết cảnh kia vì bất đắc, đây ắt không gọi là trí nên gọi là vô trí, vì có cảnh giới mà chẳng biết.
Nếu lại vì các thứ tự tướng cộng tướng tánh tự tánh tướng che giấu nên trí bất đắc. Đó cũng là vô trí, chẳng phải là trí.
Thế Tôn! Vì có sở tri nên trí sanh, chẳng phải vô tánh mà biết được cảnh sở tri nên gọi là trí.
✅ Đây là nạn vấn thứ hai.
Nghĩa là nếu hoàn toàn không có cảnh giới khả tri để đối đãi vì bất đắc, đây cũng chẳng phải trí. Vì sao? Vì có cảnh sở tri nên trí sanh, chẳng phải không có tánh năng tri kết hợp với cảnh sở tri mà lại cho là trí ư? Đường dịch: Đây cũng chẳng phải trí, vì biết cảnh mới gọi là trí, chẳng phải bất tri.
Nếu vì núi non, vách đá, đất, nước, lửa, gió, cảnh quá xa quá gần, già, trẻ, đui, điếc, các căn không đủ mà trí bất đắc. ✅ Đây cũng chẳng phải là trí mà phải là vô trí, vì có việc mà không nhận được.
✅ Đây gom chung nạn vấn thứ ba, thứ tư.
Nghĩa là trên thế giới thì núi non vách đá, tứ đại… các việc hoặc quá xa mà mắt không đến, hoặc quá gần mà bị chướng ngại, tứ đại ngăn trở. ✅ Đây là biết mà không thấu triệt. Nơi chúng sanh thì già, trẻ, đui, điếc không hiểu biết, hoặc các căn chẳng đủ không thể biết hết. Nếu do những thứ này mà chẳng biết được, đây thì cũng chẳng phải trí mà là vô trí vì có việc mà không biết.
Đường dịch: Kia cũng chẳng phải trí, vì có cảnh giới trí chẳng đầy đủ nên chẳng biết.
✅ Đây là ý Đại Huệ, cho rằng không biết các cảnh là vô trí, ắt muốn cho là thấy cảnh mới là trí. Sau đây Phật bác bỏ.
Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải vậy, vô trí nên là trí chẳng phải chẳng trí. Ta chẳng nói về việc ẩn dấu phan duyên mà trí huệ bất đắc như thế, đó là việc thi thiết lập bày.
✅ Đây đáp mà khiển trách chỗ nghi là phi lượng.
Ý Phật rằng đâu phải chẳng nhận được tiền cảnh là vô trí ư? Nên biết cái vô trí này thật là trí, chẳng phải vô trí.
Bởi chỗ ta nói về tướng trí bất đắc ấy, chẳng phải nói vì thật có tiền cảnh bị che giấu mà nói trí huệ bất đắc.
Nếu chấp về tiền cảnh mất tướng bị che giấu nên trí huệ bất đắc, là vọng tưởng lập bày chẳng phải trí huệ.
Trên quở lỗi, dưới chính đáp.
Giác tự tâm hiện lượng, có không có, ngoại tánh phi tánh biết mà việc bất đắc, vì bất đắc nên trí nơi cảnh sở tri chẳng sanh, thuận theo tam giải thoát, trí cũng bất đắc, chẳng phải người vọng tưởng do chấp trước từ vô thỉ tánh phi tánh tập khí trí hư dối tạo nên cái biết như vậy. Cái biết này là biết mà không biết. Vì thế đối với việc bên ngoài chỗ tướng tánh vô tánh vọng tưởng chẳng dứt, tự tâm hiện lượng dựng lập, nói ngã ngã sở tướng chấp trước nhiếp thọ.
✅ Đây là chính đáp thật nghĩa.
Phật nói: Ta nói trí bất đắc ấy vì ta đã biết tất cả ngoại pháp dù có dù không, đều không tự tánh, chỉ là tự tâm hiện lượng thảy đều vắng lặng, vì không có cảnh giới để đối đãi với trí. Ta biết việc như vậy, nên nói trí bất đắc.
Nên nói: Giác tự tâm hiện lượng có không có, ngoại tánh phi tánh, biết mà việc bất đắc.
Đã không có cảnh để đối tâm thì cảnh như, cũng không có tâm biết cảnh, tâm cũng như. Tâm cảnh đều như, đều bất khả đắc, vì tâm cảnh đều bất khả đắc nên trí không sanh ra sở tri. Cảnh bất khả đắc thì cảnh chẳng sanh, tâm bất khả đắc thì trí chẳng sanh, tâm cảnh không sanh, thì thuận theo tam giải thoát. Tam giải thoát là không, vô tướng, vô nguyện. Thuận là nhập. Vì tam giải thoát chẳng phải trí không thể vào, đã nhập rồi thì trí thể đều quên, nên nói trí cũng bất đắc. ✅ Đây chính là “Thánh trí vô tri”. Chỗ trí vô tri này, không phải hàng phàm ngu vọng tưởng dùng thứ trí hư ngụy hí luận huân tập từ vô thỉ có thể biết. Cái tri quên tri này, chẳng phải chỗ biết của phàm ngu, nên nói cái biết này là biết mà không biết. Do không biết cái tri vô tri, nên đối với hình tướng của cảnh bên ngoài, dùng vọng tưởng phân biệt có không, nối tiếp chẳng dứt. Ngụy dịch “Vì lìa tâm hư vọng như thế nên nói tất cả pháp chỉ tự tâm hiện, vì chấp trước ngã ngã sở tướng nhiếp thọ chấp trước”.
Không biết tự tâm hiện lượng, đối với trí nhĩ diệm mà khởi vọng tưởng, vì vọng tưởng nên ngoại tánh phi tánh quan sát không được, nương nơi đoạn kiến.
✅ Đây trách Đại Huệ không biết như thật mà khởi kiến chấp vô trí đoạn diệt.
Do không thấu đạt ngã ngã sở, các pháp tự tâm hiện lượng nên với trí, với cảnh khởi lên vọng tưởng.
Vì vọng tưởng nên thấy có thấy không, chẳng được thật nghĩa, bèn đối với trí, cảnh y cứ vào kiến chấp đoạn diệt mà khởi phân biệt.
✅ Đây đều không rành về nhị thông, không đạt được thật nghĩa, nên vọng dấy tà trí, nên văn sau dùng nhị thông để kết trách đó.
Bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:
Có các việc phan duyên
Trí huệ chẳng quán sát
Vô trí chẳng phải trí
Là kẻ vọng tưởng nói.
✅ Đây tụng chung trách chỗ nghi.
Nghĩa là nếu thật có cảnh giới phan duyên mà nói trí huệ chẳng quán sát, tức là vọng phân biệt, lấy vô trí làm chẳng phải trí. Đây đều là vọng tưởng ngu phu nói, chẳng phải bậc trí sáng.
💥 GIẢI
✅ Đây gồm tụng ba nạn vấn, quở chung là tà trí không phải chánh kiến.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng về câu hỏi thứ tư, hợp với ba câu hỏi trước, đều lấy nghĩa là “có cảnh giới sở tri mới gọi là trí” mà khiển trách chung rằng “Đây cũng gọi là tà trí”.
Vì nếu thật có sở tri cũng là lời tà, đủ biết sở tri cũng không.
-
Trên đây hai chấp đã phá, hai chướng đã tịnh, trí hạnh đã tròn.
-
Phần sau nói rõ quên lời thuận chứng để hiển quả hái lìa duyên.
H₄ - Quên lời thuận chứng để hiển quả hái lìa duyên.
💥 GIẢI
✅ Đây tổng kết nêu quả hái lìa duyên nên trách Đại Huệ đối với đệ nhất nghĩa đế tự giác thánh trí vọng khởi phân biệt theo lời sanh hiểu, sanh tà chấp ngang bướng hiểu lầm ý Phật, do không rành tướng nhị thông.
Tự giác thánh trí lìa tướng tâm duyên lìa tướng ngôn thuyết, song tuy chẳng có lời, chẳng phải là chẳng nói, nên Phật nói thánh trí vô tri…
Chính là muốn người nghe lìa lời mà thấy nghĩa, quên tri khế hợp tâm thôi.
Nào dè người nghe còn đuổi theo ngôn ngữ vọng sanh tà giải, đây đều là bị tập khí vọng tưởng ác tập hư ngụy từ vô thủy xoay chuyển, mà đối với tự tông thuyết thông không hiểu rành, chỉ chấp ngoại cảnh cho là thật có, nên chấp trước phương tiện ngôn thuyết nên không thể vào cảnh giới thật tướng thanh tịnh lìa tri.
Luận nói rằng “Hiện tiền lập chút vật, cho là tánh duy thức, vì có chỗ sở đắc, chẳng thật trụ duy thức”.
Vì là chưa quên cảnh và trí.
Thế Tôn đến đây dùng nhị thông kết trách.
Ý rằng: Từ trước ta đã dạy hạng người tu hành ba thừa, phải khéo rành tướng nhị thông đừng theo lời chấp nghĩa. Ý trách Đại Huệ tại sao không thể hội ý Phật, dây dưa chấp ngôn thuyết giả danh, mà dấy lên các thứ tà chấp, nên dạy phải quên lời khế chứng. Ý như vậy nên dùng tướng nhị thông để kết trách đó.
-
Trên hai chướng đã sạch, hai chấp đã phá, hai tứ đã quên mà kết trách đem vong ngôn mặc chứng để chỉ tự lợi công viên.
-
Phần sau đây chỉ hạnh lợi tha, trước song kết nhị lợi hành.
G₂ - Đầy đủ hạnh lợi tha
H₁ - Song kết nhị hành
Đại Huệ bạch Phật rằng: Thật như lời dạy! Cúi xin Thế Tôn vì con phân biệt về thuyết thông và tông thông. Con và các đại Bồ tát khác giỏi về nhị thông. Đời sau hàng phàm phu Thanh văn, Duyên giác không tìm thấy sơ hở.
✅ Đây Bồ tát Đại Huệ nhân Phật quở trách không giỏi về nhị thông, mà đối thánh trí vọng khởi phân biệt, nên đến đây cung thỉnh Phật dạy về nhị thông.
❓ HỎI:
Trước đã phát minh nhị thông, nay lại lập lời thỉnh, vì sao?
📣 ĐÁP:
Trước nhân ngoại đạo Nhị thừa vọng khởi hai kiến chấp đoạn thường, vì không rõ được cảnh giới duy tâm hiện lượng. Đại Huệ đặc biệt thưa thỉnh về tướng tông thông, chỉ bày cho họ biết, khiến mở mang chánh kiến. Thế Tôn nhân đó mới nói: “Bọn họ chẳng những không rành tướng tông thông mà cũng không rành về tướng thuyết thông” nên theo lời mà hiểu. Đặc biệt nói về tướng nhị thông, khiến ngoại đạo Nhị thừa kia tiện bề tu học, không rơi tà kiến. Ý ở chỗ phá nhị kiến của ngoại đạo và Nhị thừa, khiến họ biết hạnh ly ngôn.
✅ Đây nhân Đại Huệ dựa vào câu “vọng tưởng vô tánh” để mà đưa ra năm nạn vấn, dựa vào câu “thánh trí bất đắc” để khởi bốn nghi.
✅ Đây đều không rõ duy tâm, không thấu được phương tiện ngôn thuyết, lại theo lời chấp nghĩa, cho là có cảnh giới khả đắc, nên Phật trách rằng vì không khéo rành về nhị thông mà có kiến giải như thế. Đến đây Đại Huệ đặc biệt thưa thỉnh về nhị thông để y giáo phụng hành thuyết pháp lợi sanh, để dứt nghi cho hàng Nhị thừa. Ý ở chỗ dẹp tâm cảnh, không cảnh trí, đó là dùng diệu hạnh khế hợp diệu cảnh. Chữ “hữu tướng” ở trước là chỉ cho họ biết, để tiện bề tự lợi, nay nhị thông này ý ở chỗ quyết định lợi tha. Người xem nên biết, không mê mờ nơi nghĩa ngữ, không sanh kiến giải khác. Trước là hạnh vong ngôn, đây là ly ngôn thật chứng.
Phật bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.
Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ: Ba đời Như Lai có hai loại pháp thông là thuyết thông và tự tông thông. Thuyết thông là tùy theo sự ứng hợp với tâm chúng sanh vì họ nói đầy đủ khế kinh. Gọi là thuyết thông.
Thuyết thông này ý ở chỗ lợi tha.
Tiếng Phạn là Tu-đa-la, Trung Hoa dịch là Khế kinh, là khế lý khế cơ. Khế lý thì khéo hợp trung đạo, khế cơ là khéo hợp căn cơ ba thừa. Dùng một từ kinh bao hàm nhiều nghĩa, nên nói đầy đủ khế kinh, nghĩa là lý nào cũng thông suốt, cơ nào cũng gồm nhiếp.
Tự tông thông là người tu hành lìa các vọng tưởng tự tâm hiện. Nghĩa là không rơi vào các phẩm một khác, câu bất câu, vượt qua tất cả tâm ý ý thức, cảnh giới tự giác (Đường dịch: Nơi cảnh giới thánh tự giác) lìa nhân thành kiến tướng. (Hai bản dịch đều nói: Lìa các nhân duyên tương ứng kiến tướng). Chỗ tất cả ngoại đạo Thanh văn, Duyên giác rơi vào nhị biên đều không thể biết, ta nói là pháp tự tông thông.
✅ Đây nói tự tông thông ý ở tự lợi.
Do tự thông là cảnh giới lìa tâm ý thức, nên chẳng phải hàng ngoại đạo Nhị thừa có thể biết. Lìa nhân duyên tương ứng kiến, đó là tâm cảnh đều lìa.
💥 GIẢI
Bồ tát có công nhị lợi, nên thuyết thông ứng cơ thuyết pháp, nên nói dạy người sơ cơ, nghĩa là phàm phu ngu muội như trẻ thơ; tông thông tự tu hành, nghĩa là vì tu hạnh như thật.
-
Tự tha nhị lợi đã xong.
-
Sau chuyên thỉnh về hạnh lợi tha.
H₂ - Riêng chỉ hạnh lợi tha.
Bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như một thời Thế Tôn dạy rằng: Các thứ luận thuyết, biện bác ở thế gian dè dặt chớ gần gũi. (Hai bản dịch đều dùng nhóm từ “Các luận thế gian” là Thi-già-da-đà, Trung Hoa dịch là Tả thế, cũng gọi là ác luận tức là luận ngoại đạo). Nếu người gần gũi nhiếp thọ tham dục không nhiếp thọ pháp. (Ngụy dịch: Người ấy chỉ nhiếp thọ thức ăn ái dục không nhiếp thọ pháp thực). Vì sao Thế Tôn nói như thế?Đây đặc biệt hỏi về hạnh lợi tha.
Bởi nhân Thế Tôn một phen thống trách đệ tử không cho phép thân cận luận nghị của ngoại đạo, Đại Huệ nhân nghe nói về thuyết thông lợi tha, ý rằng không giỏi về tông của họ (ngoại đạo), lập thuyết không thông, thì không lợi cho họ, nên căn cứ lời của Thế Tôn nói ở trước mà nghi rằng: Thế Tôn đã nói thuyết thông lợi người sơ cơ, vì sao lại không cho phép gần gũi luận nghị của ngoại đạo? Nhân đây đưa câu hỏi.
Thế Tôn đáp: Vì luận nghị của ngoại đạo căn cứ vào tà kiến mà lập ra, nếu thân cận thì hoại chánh tri kiến. Ý ở chỗ người vào tự tông thông, nên lìa danh ngôn tập khí là bậc nhất. Vì ba cõi vốn không có pháp thật, chỉ lấy danh ngôn tập khí làm thể. Đến như sử dụng danh ngôn, mà ngoại đạo luận nghị cực kỳ phá hoại chánh tri kiến, phá hoại Phật pháp. Cho nên người tu hành như thật phải tuyệt dứt. Trên là Đại Huệ căn cứ vào thuyết thông mà hỏi, sau đây Thế Tôn y cứ tự tông thông mà đáp.
💥 GIẢI
✅ Đây nói nặng về lỗi của thế luận, răn kỹ hành giả tu như thật đừng nên gần gũi.
Sở dĩ không thể gần gũi vì không nhập vào tự tông chân thật, không biết tự tâm hiện lượng, chỉ y cứ vào vọng tưởng sanh diệt, không ra khỏi sanh lão bệnh tử, vì chỉ có ngôn thuyết đều không có thật thể.
Song Thế Tôn ở kinh này chỉ chuyên răn dạy về tập khí danh ngôn, vì thế giới Ta-bà dùng âm thanh làm Phật sự. Chúng sanh ở cõi này nhĩ căn rất bén nhạy, do âm thanh vào tâm thông, đạt thẳng pháp tánh, rất là thậm thâm. Nên kinh Lăng Nghiêm tuyển lựa viên thông, dùng nhĩ căn là đệ nhất. Kinh này (Lăng Già) khiến người tu hành như thật, dùng chỗ răn cấm danh ngôn là đệ nhất. Vì cõi này vào đạo không gì hơn nhĩ căn, mà chướng đạo cũng không gì hơn danh ngôn. Cho nên nói: “Căn trần đồng nguồn, buộc và trói không hai.”
Phàm phu tuy y cứ danh ngôn mà kết nghiệp, song khi người nghe nhạy bén, đủ sức văn huân Bát-nhã từ trước, hay quán ngôn ngữ tánh không, âm thanh chẳng thật, như gió thổi hang trống, liền có thể vào vô sanh nhẫn. Nếu một phen huân tập tà luận ngoại đạo thì pháp tánh liền nhiễm ô, hoại chánh tri kiến, phá thành Niết-bàn, vĩnh kiếp trầm luân, đoạn diệt Phật chủng, dù gặp Phật ra đời, mà bị lửa kiến chấp thiêu đốt, tà trí càng lẫy lừng chống trái chánh pháp.
Tuy Như Lai dùng vô lượng thiện xảo tứ biện tài đại bi, tiềm ẩn cùng sống chung, cũng không thể hóa độ để vào đạo.
Hãy xem đức Thế Tôn xuất thế, thuyết pháp đã bốn mươi năm mà đồ đệ của sáu phái ngoại đạo vẫn còn nhiều như mè như cám. Hàng bỏ tà về chánh như ba anh em Ca-diếp và Xá-lợi-phất ước số chỉ 1.250 người thôi, tựu trung những bậc cự phách còn tiềm ẩn trong số ngoại đạo đó. Khi chánh pháp thạnh hành còn như vậy, huống gì mạt pháp. Đức Thế Tôn của chúng ta huyền ký sau 500 năm, hạng người này sẽ phá hoại kết tập rất lớn. Vì vậy kinh này chuyên phá tà làm dụng, thiết lập phần lớn vì thời nay. Hãy xem tâm lo lắng của bậc Thánh như thế.
Thương thay, kinh này từ khi vào Trung Quốc đã 2000 năm, mà hàng lão sư túc học của chúng ta, đọc đến còn thấy khó theo kịp văn kinh, huống là đến chỗ lìa lời được ý, dùng khế hợp tâm ấn Phật tổ mà ấn định cương tông thi hành thưởng phạt, có thể gánh vác gia nghiệp Như Lai ư? Do không rành về pháp môn này còn lưu truyền tập tành thế luận, cam chịu Phật quở mà làm hàng ác đệ tử. Vì chỗ này mà tôi thường rơi lệ.
Đại Huệ, Thích Đề Hoàn Nhơn hiểu rộng các luận, tự tạo thanh luận. Hàng học giả thế luận có một đệ tử đem tượng rồng (Đường dịch: Hiện làm hình rồng) đến cung trời Đế Thích dựng lập luận tông, giao ước muốn phá hoại bánh xe ngàn căm của Đế Thích. “Nếu thua sẽ chặt từng cái đầu để đền lại”.
Nói lời cam kết rồi, liền dùng pháp Đế Thích (Hai bản dịch đều nói: Luận pháp) đè bẹp Đế Thích.
Đế Thích bị thua, bị đối thủ phá bánh xe trời, trở lại nhân gian. Như thế Đại Huệ, thế gian ngôn luận nhân dụ trang nghiêm, cho đến súc sanh (Ngụy dịch: Cho đến hiện thân súc sanh) cũng có thể dùng các thứ cú vị làm mê lầm chư Thiên và A-tu-la, kẹt trong kiến chấp sanh diệt, huống gì loài người. Cho nên này Đại Huệ, các thứ ngôn luận thế gian nên xa lìa, bởi hay chuốc lấy nhân sanh khổ, cẩn thận chớ gần gũi. Đại Huệ, thế luận chỉ nói cảnh giới của thân giác mà thôi.
✅ Đây nói lý do bảo dè dặt chớ gần gũi thế luận.
Nghĩa là đệ tử thế luận mang hình súc sanh, còn có thể chiết phục chư Thiên và Tu-la, huống gì đối với người. Đệ tử ta thời mạt pháp, hạng không có đạo lực, há một phen gần gũi không bị họ phá hoại ư? Nếu bị phá hoại thì hay chuốc lấy nhân sanh khổ, nên ta khuyên răn điều này, dè dặt chớ gần gũi. Vì thế luận của họ không có tự tông thông, chỉ nói về cảnh giới của thân giác mà thôi. Cho nên ta nói chỉ nhiếp thọ tham dục mà không nhiếp thọ pháp.
Đại Huệ, thế luận của họ, có đến trăm ngàn (Hai bản dịch có thêm chữ “câu”), đời sau sau năm trăm năm, sẽ bị phá hoại kết tập, vì ác giác nhân kiến hưng thạnh, ác đệ tử thọ học.
✅ Đây là Thế Tôn huyền ký đời mạt pháp, ma mạnh pháp yếu.
Thế luận kia, sau chánh pháp của ta năm trăm năm, sở dĩ có thể phá hoại kết tập, vì thời ấy thế tục sâu nặng, người thời ấy nhiều ác giác nhân kiến lẫy lừng, mà trong pháp ta có hàng đệ tử ác kiến, cũng thọ học pháp ấy, cho nên mới khiến họ phá hoại chánh pháp. Do đây mà quán sát, hoại pháp ấy là bởi tự hoại mà thôi, đâu phải sức của họ.
Chữ Nhân kiến, Nhân là tà nhân, vô nhân. Kiến là Ngũ lợi sử 2 trong mười sử phiền não. Vì không hiểu rành chánh pháp nên gọi là ác giác.
Như thế này Đại Huệ, thế luận phá hoại kết tập, các thứ cú, vị, nhân, thí dụ, trang nghiêm, nói về việc ngoại đạo, chấp trước tự nhân duyên, không có tự tông.
✅ Đây nói lý do phá hoại kết tập.
Sở dĩ thế luận có thể phá hoại chánh pháp, vì các thứ cú vị nhân dụ trang nghiêm kia, đều nói về việc ngoại đạo, chấp trước tự tánh nhân duyên, đều là tà kiến vì không có tự tánh tông thông. Nếu biết mà thân cận học tập tức là uống độc dược của họ, không biết mà thân cận học tập tức là uống lầm thuốc độc.
Đại Huệ, các ngoại đạo ấy không có luận tự thông, đối với các thế luận khác, rộng nói vô lượng trăm ngàn sự môn, không có tự thông, cũng không tự biết thế luận ngu si.
Đoạn này kết luận pháp kia thành việc truyền thừa, không tự biết lỗi của họ.
Vì pháp của họ vốn không có tự thông, đệ tử được truyền thừa dù nói đến trăm ngàn việc, cũng đều không có tự thông. Vì không tự thông, mà người ngu ấy rốt cuộc cũng không tự biết là luận thế tục ngu si, đây là uống lầm thuốc độc.
Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn, nếu thế luận ngoại đạo, các thứ cú vị nhân thí trang nghiêm, không có tự thông, tự việc chấp trước.
✅ Đây là Đại Huệ theo lời Phật nói ở trên, dùng để phát khởi nạn vấn.
Thế Tôn cũng nói thế luận, vì hội chúng từ nơi khác đến như Trời, Người, A-tu-la rộng nói vô lượng cú vị, cũng chẳng tự thông ư? Cũng thuộc về ngôn thuyết của tất cả ngoại đạo trí huệ ư?
Đây là Đại Huệ nhân nghe Phật chỉ trích thế luận ngoại đạo không có tự thông, bèn theo đó mà nạn vấn. Phật vì hàng trời, người, a-tu-la rộng nói các thứ pháp thế gian, cũng chẳng phải là pháp tự trí chứng đắc đều là thế luận. Há Thế Tôn cũng không có tự thông ư? Há không thuộc về vọng tưởng của tất cả tà trí ngoại đạo ư?
Đại Huệ y cứ vào thế luận mà hỏi. Thế Tôn y cứ tự thông mà đáp.
Phật bảo Đại Huệ: Ta chẳng nói thế luận, cũng không nói đến đi, chỉ nói chẳng đến, chẳng đi. Đại Huệ! Đến là hướng tụ hội sanh, đi là tan hoại, chẳng đến chẳng đi là chẳng sanh chẳng diệt. Nghĩa của ta nói, không rơi vào vọng tưởng thế luận. Vì sao? Vì chẳng chấp trước ngoại tánh phi tánh. Chỗ hiện tự tâm hiện, chẳng bị cuốn theo vọng tưởng, nhị biên, cảnh tướng chẳng phải có thật. Giác tự tâm hiện thì tự tâm hiện vọng tưởng chẳng sanh, vọng tưởng chẳng sanh thì Không, Vô tướng, Vô tác trụ vào ba môn giải thoát gọi là giải thoát.
Đây là Thế Tôn y cứ tự thông để đáp chỗ thuyết pháp của Ngài chẳng phải thế luận.
Thế luận, là pháp đến đi sanh diệt. Đến là duyên hội mà sanh nên nói hướng tụ hội sanh, đi là duyên tan mà diệt nên nói tan hoại. Vì có đến đi sanh diệt nên gọi là thế luận. Song pháp ta nói là pháp chẳng đến đi, không sanh diệt, há lại rơi vào vọng tưởng thế luận kia ư? Sở dĩ không rơi vì ta không chấp trước ngoại cảnh có không, liễu đạt duy tâm hiện lượng nên vọng tưởng về có không chẳng thể xoay chuyển. Vì biết rõ cảnh vô tánh nên nói cảnh tướng chẳng sanh; đây là cảnh chẳng sanh. Biết tự tâm hiện, thì tự tâm vọng tưởng chẳng sanh; đây là tâm chẳng sanh. Cảnh chẳng sanh nên không đến đi; tâm chẳng sanh nên chẳng sanh diệt, tâm cảnh chẳng sanh tức là Không, Vô tướng, Vô tác. Vào ba môn giải thoát gọi là giải thoát.
Ý rằng pháp ta nói là pháp giải thoát chẳng phải pháp sanh tử, vì vậy không thuộc về thế luận.
Đại Huệ! Ta nhớ một thời ở một nơi nọ, có Bà-la-môn thế luận đến chỗ ta, không hỏi về không nhàn mà hỏi ta rằng: “Cù-đàm! Tất cả pháp là được tạo tác ư?”. Ta đáp rằng: “Bà-la-môn! Tất cả được tạo tác, là thế luận thứ nhất”. Ông ta lại hỏi: “Tất cả chẳng tạo tác ư?”. Ta đáp: “Tất cả chẳng tạo tác là thế luận thứ hai.”
Đây là Thế Tôn sắp giảng rộng về thế luận, cho nên đưa ra việc cũ để dạy Bồ tát pháp thức thuyết thông chỉ luận.
Xưa gọi Bà-la-môn, nói đủ là Bà-la-ha-ma-noa. Trung Hoa dịch là Tịnh duệ, cũng gọi là Tịnh hạnh, tự xưng rằng tổ tiên mình từ miệng Phạm Thiên sanh, nhân đó lấy họ Phạm. Trong các kinh nói Phạm chí tức là hạng này. Việc này các nước thuộc Ngũ Thiên Trúc 3 mới có, các nước khác không có. Dòng dõi Phạm chí có kinh sách riêng, đời đời truyền thừa làm sự nghiệp, hoặc tại gia, hoặc xuất gia, đều cao ngạo ỷ thị, phần nhiều ưa tranh luận.
Không nhàn là vô ngã, vì họ chấp Phạm thiên tác giả làm thần ngã, nên nói không hỏi về không nhàn, mà hỏi tác giả sanh tất cả pháp. Vì chỗ thấy của họ không ra khỏi thế luận, mở miệng bèn rơi vào vọng tưởng nên hỏi một câu Thế Tôn đáp là thế luận một, hỏi hai câu đáp là thế luận hai, cho đến hỏi nhiều đáp là thế luận nhiều. Vì vậy, sau đây trách rằng: Cho đến có chút ít tâm thức lưu động phân biệt ngoại cảnh đều là thế luận.
Ông ấy lại hỏi: “Tất cả thường ư? Tất cả vô thường ư? Tất cả sanh ư? Tất cả chẳng sanh ư?”. Ta đáp: “Đó là thế luận thứ sáu”.
Đại Huệ, ông ấy lại hỏi ta: “Tất cả là một? Tất cả là khác? Tất cả vừa là một, vừa là khác? Tất cả chẳng phải một, chẳng phải khác? Tất cả làm nhân cho các thứ thọ sanh hiện ư?” (Đường dịch: Tất cả đều do các thứ nhân duyên mà thọ sanh ư?).
Khi ấy ta đáp rằng: “Đó là thế luận thứ mười một.”
Đại Huệ, ông ấy lại hỏi: “Tất cả vô ký ư? Tất cả ký ư? Hữu ngã ư? Vô ngã ư? Có thế giới này ư? Không có thế giới này ư? Có thế giới khác ư? Không thế giới khác? Có giải thoát ư? Không giải thoát ư? Tất cả sát-na ư? Tất cả không sát-na ư? Hư không ư? Phi số diệt ư? Niết-bàn ư? Cù-đàm! Tác giả ư? Chẳng tác giả ư?”.
Từ câu hư không trở xuống hỏi về ba vô vi 4 là tạo tác hay không phải tạo tác. Đường dịch: Hư không, Niết-bàn và Phi trạch diệt. Là sở tác ư? Là không phải sở tác ư? Do ngoại đạo vọng chấp ba Vô vi đều là có tạo tác, nên sau đây Thế Tôn đáp rồi, mà lại đặc biệt ủy dụ Đại Huệ rằng: Niết-bàn, Hư không, Diệt chẳng phải là có, chỉ số lượng có ba thôi. Ý rằng ba pháp còn không thể được, huống lại chấp tạo tác cùng chẳng tạo tác ư?
“Có trung ấm ư? Không trung ấm ư?”.
Đại Huệ, lúc ấy ta đáp: Bà-la-môn! Nói như thế tức là thế luận, chẳng phải chỗ ta nói, chỉ là thế luận của ông. Ta chỉ nói tập khí vọng tưởng hư ngụy từ vô thủy là nhân của các thứ ác trong ba cõi, không thể biết tự tâm hiện lượng mà sanh vọng tưởng, phan duyên theo ngoại tánh. Như pháp của ngoại đạo thần ngã các căn ba nghĩa hòa hợp phát sinh tri kiến, ta chẳng như thế. (Đường dịch: Như ngoại đạo nói ngã và căn cảnh ba việc hòa hợp mà trí sanh, ta không như thế, Tri là thức). Bà-la-môn, ta chẳng nói nhân chẳng nói vô nhân, chỉ nói vọng tưởng nhiếp sở nhiếp tánh lập bày duyên khởi, chẳng phải ông và những người rơi vào thọ ngã tương tục có thể hiểu biết. (Đường dịch: Ta chẳng nói nhân, chẳng nói vô nhân, chỉ y cứ vào vọng tâm do năng sở thủ mà nói duyên khởi, chẳng phải ông và những người khác chấp trước ngã có thể dò biết).
Đại Huệ! Niết-bàn, Hư không, Diệt chẳng phải có ba, chỉ số lượng có ba mà thôi.
Đây là Thế Tôn thuật lại đầy đủ việc trước, pháp đối với ngoại đạo nói như thế.
Nghĩa là ngoại đạo chấp chỗ thấy của họ, mỗi mỗi hỏi Phật, Phật đều quở chung là Đó đều là thế luận của ông, chẳng phải chỗ ta nói. Bởi vì ta nói, là chỉ nói tất cả chúng sanh nhân nơi các tập khí ác hý luận từ vô thủy, mà sanh ra tướng tam giới, không rõ biết chỉ là tự tâm hiện mà sanh vọng tưởng, phan duyên pháp bên ngoài mà vọng chấp trước, thật chẳng thể được.
Chỗ ta nói chỉ như thế mà thôi.
Đến như ngoại đạo nói ba pháp là thần ngã cùng với căn, cảnh, hòa hợp sanh ra thức. Đây là cái thấy của ngoại đạo, ta chẳng như thế. Hơn nữa ngoại đạo nói có dị nhân hay sanh các pháp, lại nói các pháp tự nhiên từ vô nhân sanh. Đây là pháp của các ông, pháp ta thì không vậy. Ta chỉ nói vọng tưởng năng thủ sở thủ mà nói duyên khởi. Ta nói như thế, chẳng phải chỗ ngoại đạo các ông chấp trước về ngã vọng tưởng mà có thể biết. Nghĩa là Phật nói ngoại đạo hỏi như vậy như vậy, ta chỉ như thế mà đáp.
Đây tức là chỉ luận, cũng tức là tướng thuyết thông. Bởi các câu hỏi ngoại đạo đều là lối chấp của họ. Đến như vọng chấp ba pháp vô vi tạo tác, chẳng tạo tác, có dính dáng tới pháp ta, e có chỗ lầm. Nên Thế Tôn đặc biệt bảo Đại Huệ: Chỗ hỏi ba vô vi của họ chẳng phải có ba thứ, chỉ là số có ba thôi, chẳng phải thật có. Đường dịch: Hư không, Niết-bàn và Phi trạch diệt, chỉ có số ba, vốn không thể tánh, hà huống nói tạo tác, cùng chẳng tạo tác.
Lại nữa, Đại Huệ! Lúc ấy Bà-la-môn thế luận lại hỏi ta rằng: “Nhân nơi nghiệp si ái nên có ba cõi ư? Là vô nhân ư?”. Ta đáp: “Hai việc này cũng là thế luận”. Ông ta lại hỏi: “Tất cả tánh đều vào tự tướng cộng tướng ư?”. Ta đáp: “Đây cũng là thế luận. Này Bà-la-môn, cho đến ý lưu động vọng chấp ngoại trần (Đường dịch: Cho đến có chút ít tâm thức lưu động phân biệt ngoại cảnh) đều là thế luận”.
Bấy giờ Bà-la-môn lại hỏi ta rằng: “Thế Tôn! Há chẳng phải là tất cả ngoại đạo cũng có các thứ cú vị nhân dụ trang nghiêm, nói về chấp trước tự nhân duyên ư?”.
Ý vị ấy hỏi rằng: Như Phật nói, cho đến có chút ít tâm thức lưu động phân biệt ngoại cảnh đều là thế luận. Nếu quả thật như lời Phật nói, thì các thứ luận thuyết ngôn từ của ngoại đạo chúng tôi dùng các thứ nhân duyên thí dụ trang nghiêm để kiến lập luận tông, há chẳng phải là chỗ chấp trước tự nhân duyên sao? Cớ sao Thế Tôn chỉ quở trách mình chúng tôi?
Phật bảo: Bà-la-môn! Đây chẳng phải là không, chỉ là các ông tâm thức lưu động vọng chấp ngoại trần (Đường dịch: Đây chẳng phải là không nhân, nhưng do các ông phân biệt hư vọng). Đối với quả khổ của ba cõi thường thích điên đảo.
✅ Đây Phật đáp rằng: Chẳng phải là không có cái nhân duyên trang nghiêm kia, nhưng đó chỉ là do các ông hướng ra ngoài mà khởi vọng tưởng phân biệt, bám lấy ngoại cảnh mà thành, vốn không có thật thể. Bởi vì chấp trước ngoại trần như thế nên phải chịu quả khổ luân hồi trong ba cõi, thế mà các ông vẫn thường ham thích cái điên đảo đó, chẳng biết cầu tìm lối ra.
Lúc bấy giờ Bà-la-môn im lặng không đáp, liền suy nghĩ rồi tự bỏ đi, lòng không vui vẻ mà nghĩ rằng: “Cù-đàm Sa-môn đối với tất cả pháp không thể nhận thấy (Đường dịch: Chẳng thể rõ biết), nói vô ký để đáp ta. Chỉ nói là tập khí vọng tưởng từ vô thủy không rõ tự tâm hiện lượng, đây là trí huệ của ông ấy, chẳng phải là chỗ thấy của ta”.
✅ Đây là ngoại đạo bị quở đều rơi vào thế luận, bèn hỏi có cái không phải thế luận chăng? Rồi nói tôi là Tông chủ của tất cả ngoại đạo, nghĩa là câu lời lý luận đều từ tôi mà ra, sao chẳng đúng ý Phật? Xem ông ấy tự phụ như thế, chính là chấp chặt ngã kiến, thích tranh luận. Thế Tôn đáp rằng: Có cái chẳng phải thế luận, mà chẳng phải là ông có. Cái có của ông không ra khỏi tạo tác thi vi, chỗ lập tự tông chỉ y cứ vào ngôn thuyết để lập các thứ cú vị nhân thí trang nghiêm. Pháp ta chẳng tạo tác thi vi, chẳng phải tông, chẳng nói, mà cũng không rơi vào không kiến, nên nói: Chẳng phải không nói các thứ cú vị, chẳng phải không có nhân thí trang nghiêm.
Bà-la-môn hỏi: Những gì là chẳng phải thế luận, chẳng phải chẳng tông, chẳng phải chẳng nói?
Ý ngoại đạo là Phật đã quở tôi là chẳng phải tông, chẳng phải thuyết, vậy không biết những gì là chẳng phải thế luận, có thể có cái chẳng phải chẳng tông, chẳng phải chẳng nói, xin nguyện được nghe.
Ta đáp rằng: Bà-la-môn! Có cái chẳng phải thế luận, ông và các ngoại đạo không thể biết, vì các ông đối với ngoại tánh không thật mà sanh vọng tưởng hư ngụy chấp trước.
✅ Đây là Thế Tôn quở để đáp ngoại đạo. nghĩa là có cái chẳng phải thế luận, chỉ là chẳng phải chỗ ngoại đạo các ông có thể biết.
Sở dĩ các ông không biết, do các ông chấp trước vọng tưởng không thật phân biệt ngoại cảnh.
Nếu ta có nói ông liền theo lời mà khởi hiểu, chấp trước tà kiến thôi.
Nghĩa là vọng tưởng chẳng sanh, biết rõ có không, tự tâm hiện lượng, vọng tưởng chẳng sanh, không thọ ngoại trần, vọng tưởng vĩnh viễn chấm dứt. ✅ Đây là chẳng phải thế luận. Đây là pháp ta, ông không có.
✅ Đây nêu chỗ dùng chánh nhân chẳng phải thế luận như thế, chỉ là pháp ta, ông không có. Ông có là có pháp đến đi sanh tử mà thôi, nên sau đây nói.
Bà-la-môn! Nói sơ về thức, hoặc đến hoặc đi, hoặc tử hoặc sanh, hoặc khổ hoặc vui, hoặc chìm hoặc hiện, hoặc xúc hoặc trước, các thứ tướng hoặc hòa hợp tương tục, hoặc ái hoặc nhơn chấp trước (Đường dịch: Hoặc nhân sanh chấp trước). Bà-la-môn! Những thứ như thế là thế luận của các ông, chẳng phải ta có.
✅ Đây nêu lên tướng tà nhân thế luận.
Nghĩa thế luận của ngoại đạo nhiều thứ, không thể thuật hết. Nay nói sơ chỗ thức các ông có thể phân biệt, không ra khỏi các thứ tướng đến đi sanh tử khổ vui chìm lặn tà kiến xúc trước. Ở trong đó vọng chấp hòa hợp tương tục hoặc ái trước không xả, hoặc vọng lập làm nhân mà sanh chấp trước, như thế mà thôi. Nghĩa là những loại như thế đều là thế luận của ông, trong pháp ta không nói như thế.
Đại Huệ! Bà-la-môn thế luận hỏi như thế, ta đáp như thế, ông ấy liền im lặng không giã từ mà lui. (Ngụy dịch: Lặng yên mà đi, mà không hỏi ta về dựng lập chân pháp. Đường dịch: Không hỏi ta về thật pháp tự tông, im lặng mà đi). Ông ấy nghĩ về chỗ tự thông bèn khởi niệm này: Sa-môn thích tử ra ngoài tự thông, nói vô sanh, vô tướng, vô nhân, biết hiện tượng tự vọng tưởng, vọng tưởng chẳng sanh.
✅ Đây nói về tình trạng điên đảo cố chấp khó hóa độ của ngoại đạo.
Họ lập luận với Phật bị thua, cũng không thỉnh Phật dạy, ngang nhiên không từ giã mà đi. Tướng ngã mạn tự cao đến như vậy. Hơn nữa tâm không phục thiện càng không biết lỗi, do suy nghĩ chỗ tự thông của mình trở lại cho lời Phật là trái, bèn có ý nghĩ rằng chỗ thấy của Sa-môn ra ngoài chỗ thông của ta, chỗ ông ấy nói là chỗ vô sanh, vô tướng, vô nhân, tâm cảnh chẳng sanh, là pháp đoạn diệt. Ngụy dịch: “Sa-môn Thích tử ngoài pháp của ta, thật đáng thương, nói tất cả pháp vô nhân, vô duyên, không có tướng sanh chỉ nói pháp tự tâm phân biệt, nếu có thể biết kiến tướng tự tâm thì phân biệt chẳng sanh”. Đoạn trước nói: Họ vô trí, trở lại đem lời ta cho là luận bất chánh. Chính là đây vậy.
Đại Huệ, đây chính là chỗ ông hỏi ta: “Cớ sao nói gần gũi thế luận các thứ biện thuyết, nhiếp thọ tham dục, không nhiếp thọ pháp?”.
✅ Đây là Thế Tôn nêu lên lời thỉnh vấn của Đại Huệ để kết luận đáp ý câu hỏi.
Nghĩa là ông hỏi ta vấn đề gần gũi các thứ thế luận nhiếp thọ tham dục không nhiếp thọ pháp.
Như trên ta nói các câu hỏi của Bà-la-môn đều là nhiếp thọ tham dục, không nhiếp thọ pháp. Bởi tất cả thế luận đều là loại này.
Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nhiếp thọ tham dục và pháp có cú nghĩa gì (Ngụy dịch: Thế nào gọi là cú nghĩa tham, thế nào gọi là cú nghĩa pháp?)
Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Ông có thể vì chúng sanh vị lai, suy nghĩ cú nghĩa như thế. Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông nói.
Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ: Gọi là tham đó, hoặc lấy hoặc bỏ, hoặc chạm hoặc nếm (Đường dịch: Gọi là tài đó, có thể chạm, có thể thọ nhận, có thể thủ, có thể nếm) hệ lụy ngoại trần rơi vào kiến chấp nhị biên. Lại sanh khổ ấm, sanh lão bệnh tử, ưu bi khổ não, các hoạn nạn như thế, đều từ ái khởi. Đây do gần gũi thế luận và người thế luận, ta và chư Phật gọi đó là tham, là nhiếp thọ tham dục, không nhiếp thọ pháp.
✅ Đây là Như Lai quở trách thế luận chỉ nhiếp thọ thức ăn tham dục không nhiếp thọ thức ăn pháp.
Bởi ngoại đạo cậy vào chú thuật cuồng loạn mê hoặc người ngu, chỉ tham lợi dưỡng làm tà mạng thực.
Răn kỹ người thuyết pháp nên phải thanh tịnh. Tôi đọc Trí Chứng, biết Tào Sơn quý chánh mệnh thực, lập tam đọa, nên Hoàng Long nói: “Thời nay người mới hành đạo, chỉ muốn đa tri đa giải, tìm cầu nhiều văn nghĩa.
Gọi là tu hành, không biết đa tri đa giải trở thành bế tắc. Chỉ cho trẻ con bú sữa sống nhiều, rốt cuộc không biết tiêu hay không tiêu”.
Hàng học đạo tam thừa đều là hạng này, thảy gọi là ăn không tiêu. Ăn không tiêu là tri giải không tiêu, đều là độc dược, rốt cuộc nằm trong sanh diệt, vì trong chánh pháp không có việc này. Ôi! Hàng học đạo tam thừa, tri kiến không tiêu thảy đều là tà mạng, huống ngoại đạo thế luận kia, còn không thể sánh với sữa sống, nếu một phen tiêm nhiễm, há không phải là uống nhầm thuốc độc của người ư?
Kinh Duy-ma-cật nói: “Vì hoại tướng hòa hợp mới nên nhận thức ăn, vì chẳng thọ mới nên nhận thức ăn kia. Dùng tưởng không tụ mà vào làng xóm, chỗ thấy sắc như mù, chỗ nghe tiếng như vang, chỗ ngửi hương như gió, chỗ ăn uống không phân biệt vị, nhận xúc chạm như trí chứng, biết các pháp như tướng huyễn, không tự tánh không tha tánh, xưa vốn tự chẳng nhiên, nay cũng chẳng diệt, mới có thể nhận thức ăn”. ✅ Đây chính là đối với thức ăn bình đẳng, với pháp cũng bình đẳng, như thế thì nhiếp thọ thức ăn tức nhiếp thọ pháp. ✅ Đây là “Không đoạn thanh sắc đọa” của Tào Sơn, gọi là chánh mệnh thực. Nếu còn chút ít có thể xúc thọ có thể đắm vị, tức là tà mạng. Đây gọi là nhiếp thọ tham dục không nhiếp thọ pháp.
Đại Huệ! Thế nào là nhiếp thọ pháp? Nghĩa là khéo biết tự tâm hiện lượng thấy nhơn vô ngã và pháp vô ngã, vọng tưởng chẳng sanh, khéo biết địa thượng thượng thượng, lìa tâm, ý thức, tất cả trí tuệ chư Phật quán đảnh, nhiếp thọ đầy đủ mười câu vô tận đối tất cả pháp không khai phát tự tại. (Quyển đầu nói: Hạnh vô khai phát tự tâm tự tại). ✅ Đây gọi là pháp, là không rơi vào tất cả kiến, tất cả hư ngụy, tất cả vọng tưởng, tất cả tánh, tất cả nhị biên.
✅ Đây nói rõ về nhiếp thọ pháp nên như thế.
Bởi có thể khéo biết tự tâm hiện lượng, thấy hai vô ngã, lìa tâm ý thức, thì tự nhiên không rơi vào tất cả các kiến chấp, hý luận phân biệt đoạn thường nhị biên. Do không rơi vào tất cả kiến chấp, mà có thể tiêu tất cả kiến chấp, như thế thì “chỗ đọa của lục sư, ông cũng đọa theo, mới có thể nhận thức ăn”¹. ✅ Đây là “tùy đọa” của Tào Sơn, gọi là chánh mệnh thực.
Đại Huệ! Có nhiều kẻ ngoại đạo ngu si, rơi vào hai bên, hoặc thường hoặc đoạn, chẳng phải người trí tuệ. Họ chấp nhận luận vô nhân, khởi kiến chấp Thường, khi thấy ngoại nhân hoại nhân duyên phi tánh, khởi kiến chấp Đoạn.
Đại Huệ! Vì ta chẳng thấy sanh trụ diệt, gọi đó là pháp.
✅ Đây kết luận chứng minh lý do pháp thế và xuất thế khác nhau.
Họ rơi vào nhị kiến sanh diệt nên gọi là tham dục. Ta chẳng thấy có sanh trụ diệt nên gọi là pháp. Chú giải xưa nói: Người không có trí tuệ chấp nhận vô nhân luận này, chấp từ đại chẳng từ nhân sanh, ắt khởi lên Thường kiến; hoặc chấp nhận tạo sắc bên ngoài hoại diệt không sanh trở lại, tánh nhân duyên cũng không, ắt khởi lên Đoạn kiến. Luận cứ của họ tuy nhiều, hết thảy không ra khỏi hai kiến chấp, đều là sanh diệt. Vì ta chẳng thấy sanh trụ diệt, nên kinh Tịnh Danh nói “Báng Phật, hủy pháp, không vào trong tăng chúng rốt cuộc không được diệt độ, ông nếu như thế mới có thể nhận thức ăn”. Đây là “Tôn quý đọa” của Tào Sơn, gọi là chánh mệnh thực.
Đại Huệ! Đây gọi là tham dục và pháp, ông và các Đại Bồ tát nên tu học.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng lựa riêng tà chánh.
Bởi ngoại đạo kia chấp Phạm thiên là năng tác, tất cả các pháp là sở tác, nên đối với tự tông chân thật của chánh pháp không thể thành lập. Ta dùng nhất tâm làm tự tâm, lìa khỏi năng tác sở tác, dùng điều này vì các đệ tử nói khiến họ xa lìa các thế luận kia.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng về tự tông chân hiện lượng, phá vọng chấp ngoại đạo.
Bởi hiện lượng chân tâm vốn tự vô tướng, không thể dùng cái thấy hư vọng để thấy, song ngoại đạo chẳng khéo quán sát, vọng chấp có không năng sở, hai kiến Đoạn Thường đều chẳng thể lìa, nên là thế luận. Không riêng như vậy, cho đến chỉ một chút khởi tâm động niệm, tâm thức vừa có lưu chuyển, tức là thế luận. Hà huống vọng chấp tranh luận ư? Nếu có thể đối với cảnh giới vọng tưởng không bị chuyển động, ta nói người này thật là người có thể thấy tự tâm hiện lượng.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng dạy phương tiện quán sát để vào tự tâm hiện lượng.
Ngoại đạo sở dĩ lưu chuyển, vì thấy có tướng đến đi, nào biết đến là tạm hiện như điện chớp tắt, đi là không hiện, vốn không chỗ có. Nếu người quán sát các pháp, thấy rõ tướng đến đi sanh diệt, rõ biết xưa nay vắng lặng, người ấy ắt vọng tưởng chẳng sanh.
💥 GIẢI
-
Trước giảng về nhân của đoạn và chứng xong.
-
Sau đây giảng quả tướng của đoạn chứng chia hai, một là quả chuyển y Niết-bàn, hai là quả chuyển y Bồ-đề. Trong phần một chia hai, trước trình bày 21 thứ tà tông, kế chỉ ra chánh quả tối thượng nhất thừa. Phần đầu trình bày tông tà.
E₂ - Chánh hiển quả đức của đoạn chứng. Có 2
G₁ - Quả chuyển y Niết-bàn. Có 2
H₁ - Trình bày hai mươi mốt thứ tông tà
H₂ - Chỉ ra chánh quả tối thượng nhất thừa
G₂ - Quả chuyển y Bồ-đề
G₁ - Quả chuyển y Niết-bàn
H₁ - Trình bày hai mươi mốt thứ tông tà
💥 GIẢI
✅ Đây chính hỏi về quả đại Niết-bàn, nên hỏi: Thế Tôn nói về Niết-bàn là nói những pháp gì gọi là Niết-bàn, mà ngoại đạo đối với pháp Niết-bàn khởi vọng tưởng phân biệt? Ý muốn hiển chỗ không khởi phân biệt, lìa tâm thức, tức là Đại Niết-bàn, nên trước lựa riêng tông tà, sau chỉ chánh quả.
Phật bảo: Đại Huệ! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói, như các ngoại đạo vọng tưởng về Niết-bàn chẳng phải họ vọng tưởng tùy thuận Niết-bàn (Đường dịch: Như các ngoại đạo phân biệt về Niết-bàn đều chẳng tùy thuận tướng Niết-bàn).
Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ: Hoặc có ngoại đạo ấm giới nhập diệt cảnh giới ly dục, thấy pháp vô thường, tâm tâm pháp chẳng sanh, không nhớ nghĩ cảnh giới quá khứ hiện tại vị lai, các thọ ấm dứt, như đèn tắt, như hột giống hoại nát, vọng tưởng chẳng sanh. Bọn họ nơi đây khởi tưởng là Niết-bàn.
Này Đại Huệ! Chẳng phải do kiến hoại mà gọi là Niết-bàn.
✅ Đây là Vô tưởng ngoại đạo.
Nói bọn họ là ngoại đạo kia không phải một. Do thấy năm ấm, giới, nhập đều diệt, lìa sự hệ phược dục giới, thấy các pháp vô thường, cho tâm tâm sở không khởi là định, giữ tâm một chỗ, không thấy tướng ba đời, đây là vô tưởng.
Các thọ ấm dứt như đèn tắt, như hột giống hư hoại, vọng tưởng chẳng sanh, đây chính là Lăng Nghiêm nói: “Dùng chỗ y cứ vĩnh diệt là chỗ trở về nương tựa, thành cái quả không ngơ, sanh hạt giống đoạn diệt”.
Do họ vọng thấy có tướng Niết-bàn, nên Phật phá rằng: Những điều này chẳng phải do kiến hoại mà gọi là Niết-bàn.
Đại Huệ! Hoặc do từ phương đến phương gọi là giải thoát, cảnh giới tưởng diệt, cũng như gió dừng.
✅ Đây chỉ ngoại đạo Thường kiến lập vô nhân làm Niết-bàn.
Đoạn trước nói chấp nhận luận vô nhân ắt rơi vào Thường kiến. Chú giải xưa nói từ phương đến phương là không có nẻo khác. Phương là loại. Đó là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Như người sanh người, biết chim sanh chim, nói nhân quả kia từ tám vạn kiếp không đổi dời”. Nghĩa là nay hình tướng này chết đi, từ loại này sang loại này cũng lại như thế. Bởi ngoại đạo này sở dĩ vọng thấy đoạn diệt, vì cảnh giới tưởng diệt, kỳ thật gốc tưởng chưa chấm dứt, nên nói như gió tạm dừng.
Lại có hạng ngoại đạo chấp phương là thường trụ thật có, đầy đủ các công năng, sanh tất cả pháp, nên cho phương là Niết-bàn, vì thế nói từ phương đến phương. Cả hai lối chấp đều là Vô nhân.
Hoặc do cái thấy giác sở giác hoại, gọi là giải thoát. Hoặc thấy thường vô thường khởi tưởng giải thoát.
✅ Đây là tâm tâm sở sanh diệt đã diệt, vọng cho là trong lý tự nhiên thành bất sanh bất diệt. Nên nói cái thấy về giác sở giác hoại, cho đó là Niết-bàn.
Lại cho sở giác không hoại là thường, còn năng giác hoại là vô thường, đây chính như Lăng Nghiêm đã nói về bốn cái thấy điên đảo, một phần thường một phần vô thường; nên nói thấy thường vô thường khởi tưởng giải thoát.
Nếu căn cứ theo bản Đường dịch là “Hoặc là không thấy năng giác sở giác; hoặc là không khởi phân biệt về kiến chấp thường vô thường”. ✅ Đây là mờ mịt không rõ đều thuộc đoạn kiến như nói chỗ phân biệt đều không, chỗ đó ngoại đạo Câu-già-lê… lầm cho là Minh đế.
Hoặc thấy các tướng tưởng chiêu cảm cái nhân sanh khổ, tư duy như đây rồi, không khéo biết tự tâm hiện lượng, sợ hãi về tướng rồi thấy vô tướng sanh ra rất yêu thích, khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chỉ lối chấp bảy thứ đoạn diệt là Niết-bàn.
Các hình tướng trời người ở dục giới là nhân sanh khổ nên ngoại đạo hoặc chấp thân diệt, hoặc dục diệt hết, hoặc khổ diệt hết, hoặc cực vui diệt, hoặc cực xả diệt, nên nói sợ hãi về tướng, rồi thấy vô tướng bèn sanh ưa thích sâu xa, vọng cho là Niết-bàn chân thật. Hoặc hàng La-hán độn căn, chán khổ đoạn tập, bỏ Có đắm Không, tham chấp thiên không, cho đó là Niết-bàn, cũng xếp vào đây.
Do vì không khéo biết về tự tâm hiện lượng, nên sợ hãi tướng, mà thấy vô tướng rất sanh ưa thích.
Năm thứ trên đây đều là đoạn kiến.
Hoặc biết tự tướng cộng tướng của các pháp trong ngoài, khứ lai hiện tại có tánh chẳng hoại, khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp năm uẩn căn trần đều thật có tự tánh, ba đời tiếp nối không hoại, cho đó là Niết-bàn.
✅ Đây chính là Lăng Nghiêm nói về lối chấp trong thân năm ấm sau khi chết có tướng, bốn thứ bất tử, đều là Thường kiến.
Hoặc cho rằng ngã nhơn chúng sanh thọ mạng tất cả pháp hoại, khởi tưởng là Niết-bàn.
✅ Đây chấp sau khi chết không có tướng, cho đó là Niết-bàn, cũng là đoạn kiến.
Hoặc có ngoại đạo trí huệ ác thiêu đốt, thấy tự tánh và sĩ phu. Trong khoảng nhị hữu là chỗ xuất phát của sĩ phu, gọi là tự tánh như minh sơ. Cầu-na chuyển biến, Cầu-na là tác giả, khởi Niết-bàn tưởng.
✅ Đây chấp vi trần tức tác giả là Niết-bàn.
Sĩ phu là thần ngã. Nhị hữu là minh sơ, sanh giác là một hữu, từ giác sanh ngã tâm là một hữu. Trong khoảng nhị hữu là chỗ phát xuất của sĩ phu, gọi là tự tánh như minh sơ nghĩa là từ ngã tâm sanh ngũ trần, nên nói trong khoảng nhị hữu phát ra. ✅ Đây chính là chấp vi trần thắng tánh hay sanh các pháp nên nói gọi là tự tánh như minh sơ. Cầu-na là trần. Nghĩa là vi trần hay y cứ vào các duyên chuyển biến tạo ra tất cả vật, nên nói Cầu na chuyển biến, Cầu na là tác giả. Tác giả này cũng gọi là tự tánh, cũng gọi là sĩ phu thần ngã. Đường dịch “Chấp có tự tánh, và do Sĩ phu. Cầu na chuyển biến tạo tất cả vật. Chấp tác giả này là Niết-bàn.”
✅ Đây chẳng phải trí huệ chân chánh, nên nói trí huệ ác thiêu đốt, là nói bị tà kiến thiêu đốt, không thể vào cửa thanh lương.
Hoặc cho là phước, chẳng phải phước hết.
✅ Đây chấp cái không rỗng rang là Niết-bàn. Chẳng phải phước là tội, nghĩa là tội phước đều không, chính chỉ bác không nhân quả.
Hoặc cho là các phiền não chấm dứt, hoặc cho là trí huệ.
✅ Đây chấp tám vạn kiếp hết rồi tự nhiên đắc đạo, cho đây là Niết-bàn.
Đường dịch: “Hoặc chấp không do trí huệ mà các phiền não hết”. ✅ Đây chính là chấp tột cùng số kiếp phàm phu, thời tiết chín mùi đắc đạo, nên nói không do trí huệ tôi luyện mà các phiền não tự dứt.
Hoặc thấy Tự tại là chân thật tạo tác sanh tử, khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp trời Đại Tự Tại, thể thật biến khắp thường còn hay sanh các pháp, cho đây là Niết-bàn. Do thấy thể ấy thật biến khắp thật thường còn, nên nói chân thật tạo tác sanh tử.
Hoặc bảo là lần lượt sanh nhau, (Đường dịch: Chúng sanh lần lượt sanh nhau) sanh tử lại không có nhân khác. Như thế tức là chấp trước nhân, mà họ ngu si không thể giác tri, do vì không biết nên khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp trời Đại Phạm cho là nhân sanh tử, khởi tưởng Niết-bàn.
Lăng Nghiêm nói: “Cùng tận hư không giới mười hai loài chúng sanh đều là một loại trong thân ta lưu xuất, sanh ra thắng giải. Người ấy ắt rơi vào lối chấp năng phi năng. Trời Ma-hê-thủ-la hiện vô biên thân thành bạn của họ”. Ma-hê-thủ-la là trời Sắc Cứu Cánh, tức là trời Đại Phạm. Cho Đại phạm là chủ của chúng sanh, nên nói chúng sanh lần lượt sanh nhau. Nghĩa là ngoại đạo ngu si không biết vô minh ái nghiệp là sanh nhân, mà vọng cho Đại Phạm là nhân sanh tử, nên nói Do không biết nên khởi tưởng Niết-bàn. Chú giải xưa nói Chấp sơ kiếp sanh một nam một nữ, hai người này hòa hợp lần lượt sanh. Nghĩa là tất cả vật khi diệt trở về chỗ kia, cho là Niết-bàn. Song lối chấp như vậy rất hẹp hòi, chẳng phải ý chỗ này.
Hoặc có ngoại đạo nói rằng được đạo chân đế khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp Minh đế cho là Chân đế, khởi tưởng Niết-bàn.
Hoặc thấy công đức, từ công đức khởi lên hòa hợp một khác, chung chẳng chung, khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp Lục cú là nhân của sanh sanh, cho đó là Niết-bàn.
Lục cú là: Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Hòa hợp, Đồng dị. Vọng chỉ sáu điều này đều có thật tánh, mà tất cả pháp đều từ đây sanh.
Chữ công đức trong đây tức chỉ Thật, Đức, Nghiệp; từ công đức khởi, tức Đại hữu; Đại hữu là bốn trần địa, thủy, hỏa, phong.
Lại chấp cực vi tạo thành thế giới, nên nói hòa hợp. Đường dịch: “Hoặc chấp Cầu na cùng Cầu na hòa hợp. Tánh một, tánh khác, chung và chẳng chung chấp là Niết-bàn”. Bản Đường dịch là đứng về lối chấp cực vi hay tạo thành thế giới, nên đưa ra Cầu na làm đầu, bản dịch này là hiển bày lối chấp Lục cú, nên nói công đức…
Hoặc thấy từ tự tánh khởi lên, chim khổng tước, màu sắc, các thứ tạp bảo, và gai nhọn… các tánh, thấy rồi khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp tự nhiên làm Niết-bàn.
✅ Đây chính là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Chấp bổn vô nhân, nghĩa là quạ từ xưa đen, hạc từ xưa trắng, người trời vốn đứng, súc sanh vốn đi ngang, trắng chẳng do nhờ rửa mà thành, đen chẳng phải do nhuộm được. Cho đến tùng ngay cước cong, màu sắc nơi cầm thú chim muông, các thứ trân bảo, tất cả vật tượng, đều vốn vô nhân, tự nhiên như vậy”. Nên đây chấp tự nhiên là tưởng Niết-bàn.
Đại Huệ! Hoặc có giác hai mươi lăm chân thật, hoặc vua gìn giữ nước, nhận Lục đức luận, khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp hay hiểu được hai mươi lăm Minh đế, hay thọ Lục phần luận thủ hộ chúng sanh, tức được Niết-bàn.
Đoạn trước là chấp Minh đế, Lục cú là Niết-bàn.
Đoạn này nói hay hiểu được hai mươi lăm Minh đế, hay nhận Lục phần luận, tức có thể được Niết-bàn, cùng lối chấp trước không đồng. Bởi Lục phần luận, tức Lục cú trước, song ở trước chấp tức Lục cú là Niết-bàn.
Ở đây chấp hay hiểu hay thọ là Niết-bàn. Đường dịch: “Hoặc bảo hiểu được hai mươi lăm Minh đế tức được Niết-bàn, hoặc có thuyết nói hay thọ Lục phần, giữ gìn chúng sanh, đây là Niết-bàn”.
Hoặc thấy Thời là tác giả, thời tiết thế gian, biết như thế khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây chấp Thời tức Niết-bàn.
Trong Lục cú của ngoại đạo, y cứ vào Thật cú lại có chín pháp là Tứ đại, Không, Thời, Phương, Hòa, Hợp. Lại có bảy hạng ngoại đạo: Một chấp Đại Phạm, hai chấp Thời, ba chấp Phương, bốn chấp Bản tế, năm chấp Tự nhiên, sáu chấp Hư không, bảy chấp Ngã. Cho bảy pháp này là thường trụ thật có, đầy đủ các công đức, sanh tất cả pháp. Chữ Thời trong đây tức là một trong bảy lối chấp ấy.
Bốn pháp: Đại Phạm, Phương, Tự nhiên, Ngã, trước đã nêu ra, cùng với Thời nêu chung là năm pháp. Còn Bản tế, Hư không, sở dĩ không nêu rõ, đã có trong lối chấp tội phước tận, tức cái không rỗng rang.
Lối chấp trước đã bao hàm, nên không nêu nữa. Ngoại đạo ở Tây Vức, ngoài Lục sư lại có hạng ngoại đạo chấp bảy pháp, nên cổ đức nói Sáu nhà bảy tông là đây vậy.
Hoặc nói là tánh, hoặc nói chẳng phải tánh, hoặc nói tánh phi tánh.
✅ Đây là chấp về ba câu trong tứ cú: Có, Không, cũng Có cũng Không là Niết-bàn.
Đường dịch: “Hoặc chấp có vật là Niết-bàn, hoặc chấp không vật là Niết-bàn, hoặc chấp có vật không vật là Niết-bàn”.
Hoặc thấy hữu giác cùng Niết-bàn sai biệt, khởi tưởng Niết-bàn.
✅ Đây là chấp lại có dị nhân, dùng Thắng tánh làm Niết-bàn.
Quyển đầu nói “Ngoại đạo nói lưu chú là Sanh nhân, chẳng phải nhãn thức, sắc trần, ánh sáng hòa hợp sanh, lại có dị nhân. Dị nhân ấy, hoặc là Thắng diệu, hoặc là Sĩ phu, hoặc Tự tại hoặc Thời, hoặc Vi trần…”. Trước đã phát minh, đây chính là chấp Thắng diệu là Niết-bàn. Nên nói: Thấy hữu giác cùng Niết-bàn sai biệt. Hữu giác tức chỉ thắng tánh, sai biệt với Niết-bàn là vì bốn thắng tánh có thể đến Niết-bàn nên chẳng đồng Niết-bàn, nên đối thắng tánh khởi tưởng Niết-bàn, đây đặc biệt chấp lầm.
Căn cứ bản Đường dịch: “Hoặc chấp các vật cùng Niết-bàn không khác, khởi tưởng Niết-bàn”. Chữ các vật là chỉ chung Thắng diệu, Tự tại, Sĩ phu, Thời, Vi trần… Các tác giả này đều là Niết-bàn.
Có những thứ vọng tưởng như thế, chỗ lập thuyết của ngoại đạo, không thành chỗ thành, đó là chỗ người trí trừ bỏ.
✅ Đây kết thúc lỗi của vọng chấp trên.
Đoạn trên nêu ra hai mươi mốt thứ tướng Niết-bàn của ngoại đạo, bảo là những thứ như thế, các vọng tưởng của ngoại đạo, nói về Niết-bàn đều không thành Niết-bàn chân thật, nên là chỗ bỏ đi của người trí.
Đại Huệ! Tất cả đều rơi vào nhị biên, khởi tưởng Niết-bàn. Nhưng vọng tưởng về Niết-bàn của ngoại đạo như thế, trong ấy không có hoặc sanh hoặc diệt.
✅ Đây giải thích lý do không thành tựu ở trên.
Sở dĩ họ không thể thành Niết-bàn chân thật, vì rơi vào nhị biên, sở dĩ rơi vào nhị biên, vì họ không lìa tướng vọng tưởng sanh diệt. Kỳ thật tức ngay trong vọng tưởng Niết-bàn của họ, vốn không có tướng sanh diệt. Chỉ vì ngu phu vọng tưởng tự sanh diệt thôi, nên nói: Trong ấy không có hoặc sanh hoặc diệt.
Đại Huệ! Mỗi mỗi Niết-bàn của ngoại đạo, bọn họ tự luận, trí huệ quán sát, đều không chỗ lập. Như vọng tưởng kia, tâm ý đến đi trôi nổi lưu động, tất cả không có người được Niết-bàn.
✅ Đây kết luận chỉ ra pháp của họ rỗng không chẳng có lợi ích.
Nghĩa là Niết-bàn của ngoại đạo đều y cứ vào tự tông mà sanh vọng tưởng, trái với chánh lý.
Nếu dùng trí huệ quán sát thì không thành tựu, nên nói đều không chỗ lập. Nếu theo vọng tưởng của họ mà tìm cầu, chỉ khiến tâm ý trạo cử tán loạn, qua lại trôi nổi lưu động, luống phí công cần mẫn siêng năng, rỗng tuếch không lợi ích, nên nói: Tất cả không có được Niết-bàn.
✅ Đây là lý do không nên gần gũi tu tập.
- Trên trình bày tông tà* Dưới nêu chỉ quả chứng
H₂ - Chỉ tối thượng nhất thừa chánh quả
Đại Huệ! Như ta nói về Niết-bàn, nghĩa là khéo giác tri tự tâm hiện lượng, không mắc kẹt nơi ngoại tánh, lìa tứ cú, thấy chỗ như thật, không rơi vào vọng tưởng tự tâm hiện nhị biên, nhiếp sở nhiếp đều bất khả đắc, tất cả độ lượng, không thấy chỗ thành.
Ngu mê nơi chân thật không nên nhiếp thọ, bỏ chỗ ấy xong, được pháp tự giác của bậc thánh, biết hai vô ngã, lìa hai phiền não, trừ sạch hai chướng, vĩnh ly nhị tử, tiến lên các địa được Như Lai địa, (Đường dịch: Chuyên tu các địa, vào Phật địa) các tam-muội sâu xa như ảnh huyễn, lìa tâm ý ý thức, gọi tên là Niết-bàn.
Đại Huệ! Ông và các Đại Bồ-tát nên tu học, nên chóng xa lìa tất cả kiến chấp về Niết-bàn của ngoại đạo.
✅ Đây nêu lời Phật nói về quả chân thường của Đại Niết-bàn vô thượng.
Ý rằng ta nói Đại Niết-bàn, như Đường dịch: “Chỉ hay liễu đạt tự tâm hiện lượng không chấp vào ngoại cảnh, xa lìa tứ cú, trụ chỗ thấy như thật, không rơi vào nhị biên, lìa chỗ năng sở thủ, không vào các lượng, không kẹt chỗ chân thật, trụ chỗ thánh trí hiện các pháp. Như thế liền có thể ngộ hai vô ngã, lìa hai phiền não, trừ sạch hai thứ chướng, chuyên tu các địa, vào Phật địa. Được các đại tam-muội như huyền, lìa tâm ý ý thức, đây gọi là Niết-bàn. Ta nói như thế mà thôi, chẳng như các vọng tưởng chấp trước so đo của ngoại đạo ngu phu. Thế nên người tu hành như thật nên gấp xa lìa tất cả những kiến chấp về Niết-bàn của ngoại đạo vọng tưởng, không nên gần gũi tập tành”.
Trên đây, cuối chương đã nói rõ về hành tướng nhân quả của nhất thừa, trong phần hiển quả đức, đương cơ bèn hỏi Phật về trí giác. Thế Tôn đáp dùng nhân pháp vô ngã, biết rõ nhị chướng, lìa hai thứ tử, đoạn hai phiền não. Đây gọi là tri giác của Phật.
Nay chương này giảng về phần đoạn chứng, nên từ chỗ phá nhị kiến, đoạn hai chướng, rõ hai vô ngã, cho đến trí cảnh đều vong, tâm pháp đều dẹp, đã tột đỉnh vong ngôn khế chứng, sau bèn hiển tự hạnh công viên, dạy dùng để lợi tha. Hạnh lợi tha viên mãn, nên đặc biệt phân biệt quả đức tà chánh, cho đến quả vô thượng Đại Niết-bàn, mới là tướng cứu cánh của tu hành như thật. Đến đây chỉ quả đức đã xong, sau nói rõ hai vô ngã… để kết thúc phần đoạn chứng công viên, tu hành cực tắc. Đây là ý chỉ thông đồ. Người xem biết huyết mạch của thông đồ, mới thấy bổn ý thuyết pháp của thánh nhân, không trôi trong sự ức đoán. Người trí nên biết.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng về đoạn trước có nhiều hạng ngoại đạo kiến chấp về Niết-bàn, chỉ theo mỗi mỗi tự tâm vọng tưởng sanh, thật ra đều không có phương tiện giải thoát.
Do không có phương tiện khéo, nên ngu mê trong chỗ trói buộc, không thể đến chỗ không trói buộc. Do cố định chấp Niết-bàn có thể thủ, nên bị Niết-bàn trói buộc, rồi dùng vọng kiến chấp thủ điều đó, nên là hay trói buộc. Nếu đem chỗ trói buộc và bị trói buộc làm tưởng giải thoát, thì trọn không giải thoát. Do các trí thức của họ có nhiều đường hướng khác, chỗ thấy không đồng nhất, mà họ không ngộ, trở lại cho đó là thông, há chẳng là rất ngu ư? Họ ắt hoàn toàn không có lý giải thoát, chỉ là sự phân biệt của ngu si vọng tưởng.
💥 GIẢI
✅ Đây nói các lỗi của ngoại đạo vọng chấp, đều do không nghe trí huệ chân thật, chỉ y cứ danh ngôn vọng tưởng mà lập.
Họ không biết ngôn ngữ là gốc của ba khổ, chân thật là nhân diệt khổ, không theo chân thật mà theo ngữ ngôn, chính là dùng khổ để bỏ khổ, nên thảy không giải thoát. Ba khổ là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng thí dụ để hiển hạnh như thật.
Nghĩa là các pháp căn, trần, năm uẩn trong ba cõi, xưa nay chẳng có, như bóng trong gương. Tuy có mà thật chẳng có. Chỉ có trong tâm cảnh vọng tưởng của người ngu, thấy có danh tướng sự tướng nên tâm cảnh đối lập. Do không biết tâm cảnh xưa nay vắng lặng, nên vọng khởi nhị kiến, nếu rõ duy tâm hiện lượng, năng sở đều quên, thì ngay đó vọng tưởng không sanh, tức là chánh trí như như vậy.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng giải thích nghĩa duy tâm ở trên.
Nghĩa là tất cả các pháp duy tâm hiện, thì các thứ tức là tâm, tâm tức là các pháp. Chỉ là nhất tâm, rõ không có năng sở, tức các pháp hiện tiền tuy hiện mà không hiện, cũng chỉ như vọng tưởng của người ngu, chỉ là điên đảo của tự tâm. Cho nên ba cõi duy tâm, chỉ vọng tưởng thấy, thật không có ngoại cảnh để làm duyên cho tâm. Sợ người ngu không thể biết điều này, vọng sanh phân biệt.
💥 GIẢI
✅ Đây tụng kết luận hiển bày các pháp chỉ do danh ngôn làm thể. Bởi trong tất cả kinh nói vọng tưởng, đều không ra khỏi danh ngôn, nếu biết danh ngôn thể không, tức vọng tưởng các pháp đều bất khả đắc.
- Phân đoạn lớn của kinh nói quả hai chuyển y, phần trên nói chuyển sanh tử làm Niết-bàn đã xong.
⏯️