Lăng Già Bút Ký - Tập 2 - Phần 3


⏯️ (tiếp theo)

QUYỂN THỨ VII

CHƯƠNG BỐN - PHẦN ĐẦU

Phần trước quả chuyển y Niết-bàn đã xong.Sau đây quả chuyển y Bồ-đề.

G₂ - Quả chuyển y Bồ-đề. Tứ đức chia làm 5:

H₁ - Hiển đức pháp thân chân ngã

H₂ - Hiển đức pháp thân chân thường

H₃ - Hiển đức pháp thân chân lạc

H₄ - Hiển đức pháp thân chân tịnh

H₅ - Thích nghi khuyến tu


H₁ - Hiển đức pháp thân chân ngã. Có 2:

I₁ - Hiển tam đức bí tạng

I₂ - Hiển nhất tâm chân như


I₁ - Hiển tam đức bí tạng

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tam-miệu tam-phật-đà, con và các Đại Bồ-tát khác khéo rành về tự tánh Như Lai, tự giác giác tha.

💥 GIẢI

Phần trước hiển bày quả chuyển y Niết-bàn đã xong.

Phần này hiển bày quả chuyển y Bồ-đề, trước tiên nói ba đức bí tạng để nêu cứu cánh chân ngã, nên thưa thỉnh về chánh biến chánh giác khéo rành về tự tánh Như Lai.

Tam-miệu, Trung Hoa dịch là chánh biến, tam-phật-đà Trung Hoa dịch là chánh giác. Tự tánh Như Lai tức tự tánh pháp thân, chính là cứu cánh chân ngã.

Những điều đã nói trước đây, bởi phàm phu chấp trước thân năm uẩn giả ngã, ngoại đạo vọng chấp thần ngã, nên Thế Tôn dùng vô ngã để phá. Nay vọng chấp đã phá, quả đức đã hiển bày nên nói pháp thân chân ngã. Vả lại, nói tự tánh Như Lai tức pháp thân chân ngã, vì ngoại đạo vọng chấp thật có tự tánh hay sanh các pháp nên Thế Tôn dùng không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh để phá chấp ấy. Nay vọng chấp đã phá, pháp thân đã hiện nên đến đây nói tự tánh pháp thân Như Lai chân thường, để hiển tự giác thánh trí chân ngã.

Phật bảo Đại Huệ: Cho phép ông hỏi, ta sẽ tùy theo chỗ hỏi mà đáp.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác là tạo tác ư? Là chẳng tạo tác ư? Là sự ư? (Hai bản dịch đều nói là quả ư?) Là nhân ư? Là tướng ư? Là sở tướng ư? Là thuyết ư? Là sở thuyết ư? Là giác ư? Là sở giác ư? Những câu như thế khác hay chẳng khác?

Sắp hiển bày pháp thân lìa lỗi dứt quấy, để hiển bày đoạn đức, nên đưa ra lỗi quấy, để thưa thỉnh.

Câu “khác chẳng khác” nghĩa là khác với câu có pháp thân Như Lai ư? Là chẳng khác với những câu là pháp thân Như Lai ư? Sau đây Như Lai đáp, chỉ thẳng cứu cánh nguồn chân nhất tâm, nên nói tất cả đều chẳng phải. Luận nói: Nên biết chân như, chẳng hữu tướng, chẳng vô tướng, chẳng nhất tướng, chẳng dị tướng…

Phật bảo Đại Huệ: Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác đối với những câu như thế, chẳng phải sự, chẳng phải nhân. Vì sao? Vì đều có lỗi.

Đây chỉ thẳng nguồn chân nhất tâm lìa lỗi dứt quấy. Nếu nói pháp thân là tạo tác, là không tạo tác, là quả là nhân… đều có lỗi. Đường dịch: Nói chung là chẳng phải.

Đại Huệ! Nếu Như Lai là sự, thì hoặc tạo tác, hoặc vô thường. Nếu vô thường thì tất cả sự nên là Như Lai, đều là chỗ không mong muốn của ta và chư Phật. Nếu chẳng phải sở tác vì vô sở đắc, thì không có phương tiện, đồng với sừng thỏ, con của gái đá, vì không có.

Đây nêu lý do lỗi của đoạn trên.

Nếu nói Như Lai pháp thân là quả, là sự, ắt đồng với hữu tác, phàm có tạo tác đều là vô thường. Nếu cho vô thường là pháp thân, thì tất cả sự việc vô thường ở thế gian đều là Như Lai! Đâu từng có pháp thân Như Lai là vô thường ư? Kinh nói: Nếu dùng mắt thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai. Bản Ngụy nói: Không chấp nhận điều này, lỗi chấp Như Lai là sự là tác giả, ắt rơi vào lỗi vô thường.

Lại nếu chấp Như Lai là không tạo tác, ắt đồng với vô sở đắc. Đã là vô sở đắc thì không có các thứ phương tiện huân tu, như sừng thỏ, con gái đá, vốn không chỗ có. Chấp có không, hai kiến đều lỗi.

Đại Huệ! Nếu chẳng phải sở tác, thì Như Lai là nhân. Nếu là nhân ắt rơi vào lỗi tác giả. Nếu là tác giả ắt là sở tác. Nếu chẳng phải nhân chẳng phải quả, thì rơi vào lỗi đoạn diệt.

Đây phá lỗi chấp là nhân.

Nếu nói Như Lai là nhân, nhân ắt có năng sanh, liền đồng với tác giả là tạo tác. Đã là tác giả, ắt có sở tác, sở tác ắt đồng với quả, quả ắt đồng với pháp hữu vi vô thường. Nên nói ắt là sở tác. Nếu nói chẳng phải nhân chẳng phải quả, ắt đồng với hư không, rơi vào kiến chấp đoạn diệt.

Đại Huệ! Lại Như Lai không kẹt vào tướng và sở tướng. Nếu Như Lai là tướng và sở tướng, ắt là có tạo tác, có tướng năng sở.

Đây phá lỗi chấp Như Lai là tướng và sở tướng.

Tướng là năng hiện, sở tướng là sở hiện. Như Lai lìa tất cả tướng, vốn không năng sở, nếu thấy có tướng năng sở, liền đồng với hữu vi tạo tác.

Như Lai là thuyết ư? Là sở thuyết ư? Nếu là sở thuyết ắt đồng với vọng tưởng, do vì năng thuyết là nhân.

Đây phá lỗi chấp là thuyết và sở thuyết.

Đây đem chỗ các pháp như ngũ ấm đều có tự tánh để so sánh hiển bày pháp thân thật có chân ngã, để nói tuy vượt nhân quả mà không đoạn diệt.

Ý rằng ta nói Như Lai lìa tứ cú có không, chẳng phải là tuyệt đối không, chìm trong đoạn diệt, vì có pháp thân chân ngã tự tánh. Vì sao? Như bình thường ta nói tất cả các pháp thảy đều vô ngã, nên biết cú nghĩa vô ngã này! Bởi ngã là nghĩa chủ tể tự tại mà trong các pháp không có chủ tể, không được tự tại, do nghĩa này, nên nói vô ngã mà chẳng phải tuyệt đối không có tự tánh các pháp, vì thế nói nên biết nghĩa này. Tánh vô ngã là không có ngã, thí như trong thân người khác không có tánh ta, trong tự thân ta không có tánh người khác, chẳng phải không có tự thân của ta của người. Vì vậy nói: Tất cả pháp có tự tánh không tha tánh, như trâu ngựa. Nên biết cú nghĩa chân ngã Như Lai cũng thế.

Đại Huệ! Thí như chẳng phải tánh trâu ngựa. Chẳng phải tánh trâu ngựa, kỳ thật chẳng có chẳng không, chẳng phải chúng không tự tánh.

Như thế, này Đại Huệ! Tất cả các pháp chẳng phải không tự tướng. Có tự tướng, chỉ là chẳng phải chỗ có thể biết của hàng vô ngã và ngu phu, vì vọng tưởng mà thôi. Như thế tất cả pháp không, vô sanh, không tự tánh, nên biết như thế.

Đây dùng thí dụ để giải thích nghĩa pháp thân có tự tánh.

Bởi pháp thân và thân năm uẩn chẳng khác chẳng giống. Pháp thân ẩn trong năm uẩn, ắt là pháp thân không tự tánh, song chẳng phải năm uẩn không tự tánh, như trong trâu không có tánh ngựa, chẳng phải không có tánh trâu. Pháp thân hiển lộ trong các pháp, ắt các pháp không tự tánh chớ chẳng phải pháp thân không có tự tánh, như trong ngựa không có tánh trâu, chẳng phải không có tánh ngựa. Nên nói như trâu ngựa, kỳ thật chẳng có chẳng không, chẳng phải chúng không tự tánh. Thế nên tất cả các pháp đều có tự tướng pháp thân thường trụ, chỉ là không phải chỗ có thể biết của hàng vô ngã và ngu phu. Vô ngã là hàng Nhị thừa, ngu phu là ngoại đạo. Sở dĩ họ không thể biết, vì họ dùng vọng tưởng phân biệt tự tánh các pháp.

Không những cú nghĩa pháp thân như vậy, mà ta nói tất cả pháp không, tất cả pháp vô sanh, tất cả pháp không tự tánh, mỗi mỗi đều nên biết như vậy. Bởi đoạn trước, do hàng Nhị thừa ngoại đạo vọng chấp các pháp cho là thật có tự tánh, có sanh, nên ta nói không, vô sanh, không tự tánh để ngăn dẹp đó. Đó là chỉ phá chấp kia, mà không phá pháp kia, chẳng phải thật là không có tự tánh pháp thân thường trụ.

Như thế, Như Lai (Ngụy dịch: Pháp thân Như Lai cũng lại như thế) cùng với ấm chẳng phải khác, chẳng giống. Nếu không khác với ấm lẽ ra vô thường.

Nếu khác thì không phương tiện. Nếu là hai thì lẽ ra có khác, như sừng trâu nên chẳng khác; dài ngắn sai biệt, nên có khác. Tất cả các pháp cũng như thế.

Đây chính là giảng rõ pháp thân và năm ấm lìa khác chẳng khác để hiển bày pháp thân bình đẳng.

Vĩnh Gia nói: Huyền hóa không thân tức pháp thân, vậy nên pháp thân và năm ấm, không thể nói khác hay chẳng khác. Nếu pháp thân cùng với ấm chẳng khác, thì ấm vô thường, pháp thân cũng theo đó vô thường. Nếu pháp thân khác với ấm, thì năm ấm có tướng mà pháp thân không tướng, không tướng ắt là không, không ắt đoạn diệt, diệt thì tuy tu mà không thủ chứng, nên nói không phương tiện. Như thế thì khác và chẳng khác không ra ngoài danh ngôn, đều chẳng thật.

Đã lìa một khác, ắt là không có hai, nếu có hai tức phải có khác. Nhưng pháp thân và ấm, cùng xuất hiện mà tên khác, như trâu có hai sừng vốn là một thể nên không khác, song năm ấm sanh diệt, còn pháp thân trạm nhiên, như sừng có dài ngắn sai khác, nên có khác. Không riêng gì ấm và pháp thân, các pháp đều như vậy, nên nói Tất cả pháp cũng như thế.

Đại Huệ! Như trâu, sừng trái khác sừng phải, sừng phải khác sừng trái. Như thế dài ngắn, các màu sắc mỗi mỗi khác.

Đại Huệ! Như Lai ở nơi ấm giới nhập, chẳng khác chẳng không khác.

Đây nói pháp thân so sánh không thể được.

Nghĩa là pháp thân cùng với ấm giới nhập, tuy nói là đồng một thể không khác, như hai sừng của trâu.

Sừng trâu còn có bên phải bên trái, dài ngắn tướng sai khác nhất định, mà pháp thân cùng với ấm giới nhập rốt ráo không khác. Nên bản Ngụy dịch: Như thế, tướng pháp thân Như Lai, đối với ngũ ấm không thể nói một, không thể nói khác.

Đoạn trên nói rõ pháp thân với năm ấm thế gian lìa khác, chẳng khác.

Như thế Như Lai giải thoát, chẳng khác chẳng không khác. Như thế Như Lai, dùng từ giải thoát để gọi.

Đây nói rõ pháp thân cùng giải thoát xuất thế lìa khác chẳng khác để hiển bày đức giải thoát.

Ngụy dịch: Đối với giải thoát không thể nói một, không thể nói khác. Như thế vì y cứ giải thoát, gọi là tướng pháp thân Như Lai.

Nếu Như Lai khác giải thoát, lẽ ra do sắc tướng thành, vì do sắc tướng thành nên phải vô thường. Nếu chẳng khác, người tu hành được tướng giải thoát lẽ ra không thể phân biệt, song người tu hành thấy có phân biệt. Thế nên chẳng khác chẳng không khác.

Đây giải thích pháp thân cùng với giải thoát lìa khác chẳng khác để hiển đức giải thoát.

Nghĩa là nếu pháp thân khác giải thoát, mà giải thoát tức Niết-bàn, Niết-bàn không tướng, nếu pháp thân khác với đây, thì thuộc sắc tướng. Phàm sắc tướng đều là vô thường mà pháp thân đồng sắc tướng, phải rơi vào vô thường.

Đây là lỗi chấp khác. Nếu pháp thân không khác giải thoát, thì không năng sở, nếu không năng sở thì nhân quả không phân biệt, không ngăn người tu hành hiện có năng chứng sở chứng sai biệt, nên chẳng phải chẳng khác. Bản Ngụy dịch: Nếu pháp thân Như Lai không khác giải thoát, thì không có sự sai biệt giữa năng chứng sở chứng, mà người tu hành ắt thấy có năng chứng và sở chứng. Vả lại có năng sở, chẳng phải chẳng khác vậy.

Như thế, trí và nhĩ diệm, chẳng khác chẳng không khác.

Đây nói rõ trí năng quán cùng cảnh sở quán chẳng khác và giống, để hiển đức Bát-nhã.

Bản Đường dịch: Như thế trí và sở tri chẳng khác chẳng giống. Đây trình bày pháp thân, giải thoát, Bát-nhã chẳng khác chẳng không khác, để hiển bày rốt ráo tạng bí mật nhất tâm tam đức, chẳng ngang chẳng dọc, viên mãn dung nhiếp. Vĩnh Gia nói: Pháp thân chẳng si mê tức Bát-nhã, Bát-nhã không chấp trước tức giải thoát, giải thoát tịch diệt tức pháp thân. Nêu một tức đủ cả ba, nói ba mà thể tức một. Thế nên tam đế nhất cảnh, lý pháp thân hằng thanh tịnh; tam trí nhất tâm, cái sáng của Bát-nhã thường chiếu; cảnh trí thần hợp, cái ứng dụng của giải thoát tùy căn cơ. Chẳng phải ngang chẳng phải dọc, đạo như chữ y ba điểm tròn đủ thầm hội. Nên biết diệu tánh của ba đức rõ ràng không trái, nhất tâm sâu rộng khó nghĩ bàn, chỗ xuất yếu nào chẳng phải con đường.

Thế nên tức tâm là đạo, có thể nói tìm dòng mà được nguồn. Nên văn sau giải thích chỗ căn lượng đều chẳng phải, để hiển bày rốt ráo tột cùng nhất tâm.

Đại Huệ! Trí và nhĩ diệm, chẳng khác chẳng không khác, chẳng thường chẳng vô thường, chẳng tác chẳng sở tác, chẳng hữu vi chẳng vô vi, chẳng giác chẳng sở giác, chẳng tướng chẳng sở tướng, chẳng ấm chẳng khác ấm, chẳng thuyết chẳng sở thuyết, chẳng một chẳng khác, chẳng chung chẳng riêng.

Thảy đều lìa tất cả lượng, lìa tất cả lượng ắt không ngôn thuyết, không ngôn thuyết ắt vô sanh, vô sanh ắt không diệt, không diệt ắt tịch diệt, tịch diệt thì tự tánh Niết-bàn, tự tánh Niết-bàn thì vô sự vô nhân, vô sự vô nhân ắt không phan duyên, không phan duyên ắt ra khỏi tất cả hư ngụy, ra khỏi tất cả hư ngụy ắt là Như Lai.

Như Lai là tam-miệu tam-phật-đà. Đại Huệ, đây gọi là tam-miệu tam-phật-đà.

Đây hiển bày tột cùng quả chuyển y tịch diệt nhất tâm chân như tự tánh, để đáp lời thưa hỏi gần mà tổng kết chung đoạn trước về chỗ quy thú rốt ráo để hiển pháp thân lìa tất cả tướng.

Luận nói: Nên biết tự tánh chân như chẳng có tướng chẳng không tướng, chẳng phải không có tướng, chẳng phải không không tướng, chẳng phải có cả tướng có không, chẳng phải tướng một, chẳng phải tướng khác, chẳng phải chẳng tướng một, chẳng phải chẳng tướng khác. Chẳng phải tướng chung của một khác…

Nói tóm lại y theo tất cả chúng sanh do có vọng tâm niệm niệm phân biệt đều chẳng tương ưng, nên nói là không.

Nếu lìa vọng tâm thật chẳng thể là không. Do thật chẳng thể là không, nên nói Như Lai có chân thật tự tánh. Kinh nói: Như Lai tức là nghĩa Như của các pháp vì tất cả pháp đều đồng Như, nên nói ra khỏi tất cả tất cả hư ngụy tức là Như Lai. Vì vừa dính vào ngôn ngữ nói năng, đều rơi vào hí luận.

Ban đầu Đại Huệ hỏi nghĩa trăm lẻ tám câu, mà Thế Tôn đáp thẳng tất cả đều phi. Do nhất tâm chân như bình đẳng tịch diệt, vốn không ngôn thuyết. Nay từ cửa sanh diệt phương tiện tiếp dẫn cùng tột trở về chỗ này. Thế nên hiển bày nhân quả lý hạnh đoạn chứng đã xong, rồi dùng nhất tâm chân như Niết-bàn Bồ-đề tổng kết, vì chân như rốt ráo lìa tất cả tướng, nên tất cả đều phi. Đây là tức ngôn thuyết hiển vô ngôn, trong phần đáp riêng đó vậy. Dùng chính chỗ này để giảng rõ Bồ-đề, song chỉ gọi là Như Lai pháp thân, e người mê muội không biết, nên kết luận chỉ dạy Như Lai tức tam-miệu tam-phật-đà.

Đại Huệ, tam-miệu tam-phật-đà, phật-đà là lìa tất cả căn lượng.

Đây tổng kết pháp thân Như Lai lìa cảnh giới tâm ý thức.

Một phen Đại Huệ hỏi Thế Tôn đáp, cho đến lần lượt trùng trùng biện luận, chỉ hiển cảnh giới lìa tâm ý thức này mà thôi. Không riêng gì ở hội này mà bốn mươi chín năm trên ba trăm hội thuyết pháp cũng là hiển bày chỗ này. Cho đến ba đời chư Phật chứng đắc, lịch đại Tổ sư truyền trao, cũng chỉ chỗ này mà thôi, lại không có pháp khác. Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ một sự thật này, còn hai ắt không chân”. Đây chính là cổ đức nói chỗ tâm thức không đến, vì vậy nói phật-đà là lìa tất cả căn lượng.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Thảy lìa các căn lượng

Không sự cũng không nhân

Đã lìa giác sở giác

Cũng lìa tướng sở tướng.

Đây tụng chung pháp thân lìa các lỗi.

Căn lượng là cảnh giới của thấy nghe hiểu biết. Do pháp thân ly niệm chẳng phải chỗ tâm hành, nên lìa tất cả nhân quả năng sở.

Ấm duyên Đẳng chánh giác

Một khác, không thể thấy

Nếu không thể thấy có

Làm sao mà phân biệt?

Đây tụng năm ấm và pháp thân bình đẳng không hai.

Dùng chánh nhãn mà quán, chân vọng bình đẳng, nên một khác không thể thấy, đã không có một khác để thấy làm sao có thể phân biệt ư?

Chẳng tác chẳng không tác

Chẳng sự cũng chẳng nhân

Chẳng ấm chẳng tại ấm

Cũng chẳng có dư tạp.

Cũng chẳng có các tánh

Như chỗ vọng tưởng thấy

Nên biết cũng chẳng không

Pháp pháp nào cũng vậy.

Đây tụng pháp thân thuần tịnh.

Vì pháp thân thuần tịnh nên tất cả đều phi, tuy không các tướng như chỗ vọng thấy, mà chân như tự tánh cũng lại chẳng không. Do pháp pháp đều chân, nên nói cũng vậy.

Do có nên có không

Do không nên có có

Nếu không chẳng nên nhận

Nếu có chẳng nên tưởng.

Đây tụng nói có không đối đãi nhau mà sanh, không nên khởi nhị kiến.

Nghĩa là pháp thân tuy lìa các tướng, không rơi vào đoạn diệt, nên không thể chấp không. Nên biết pháp thân chẳng phải không, mà thật có tự tánh, nếu đối với tự tánh pháp thân mà lại khởi thấy có, cũng là vọng tưởng, nên nói Nếu Không chẳng nên nhận, nếu Có chẳng nên tưởng. Bản Ngụy dịch: “Không đã chẳng thể nhận, Có cũng chẳng nên nói”. Đây chính là chỗ thảy lìa các căn lượng.

Hoặc đối ngã phi ngã

Lượng ngôn thuyết trôi chảy Chìm đắm nơi nhị biên,

Tự hoại hoại thế gian. Giải thoát tất cả lỗi

Chánh quán chỗ ta thông Đây gọi là chánh quán,

Không hủy đại đạo sư.

Đây tụng hiển bày lìa lỗi, kết lại quy về quán tâm.

Ở trước nhân phàm phu vọng chấp giả ngã, ngoại đạo vọng chấp thần ngã, nên Phật dùng lời vô ngã để phá. Rồi hàng Nhị thừa lại chấp “vô ngã” là thật pháp, nên đây nói pháp thân chân ngã để phá. Ý rằng trước đó nói ngã hay phi ngã đều là lượng ngôn thuyết, đều đã rơi trong nhị kiến rồi.

Nay nếu đối với chỗ hiển bày pháp thân chân ngã cho là đúng, rồi cho nhị ngã đã nói ở trước là sai, điều này cũng rơi vào lượng ngôn thuyết, trôi nổi chìm đắm ở trong nhị biên có không, rốt cuộc chẳng phải cứu cánh.

Không riêng tự hoại, cũng hoại kẻ khác. Vì sao? Vì chỉ có ngôn thuyết đều không có thật nghĩa, vì đều là hí luận. Nếu giải thoát tất cả những lỗi trên, hay chánh niệm quán sát chỗ ta thông đạt lìa tâm ý thức.

Đây gọi là chánh quán, không phỉ báng chánh pháp, không hủy đạo sư. Nếu quán khác đều là tà kiến.

  • Trước nói về quả chuyển y Bồ-đề, để hiển pháp thân ba đức bí tạng để kết quy về quán tâm đã xong.

  • Sau đây hiển nhất tâm chân như lìa tất cả tướng gồm quy đệ nhất nghĩa đế.

I₂ - Hiển nhất tâm chân như, có 2:

K₁ - Lìa tướng danh tự

K₂ - Lìa tướng ngôn thuyết


K₁ - Lìa tất cả tướng danh tự

Lúc bấy giờ Đại Huệ Bồ-tát lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói Tu-đa-la nhiếp thọ bất sanh bất diệt. Lại nữa Thế Tôn nói bất sanh bất diệt là tên khác của Như Lai. Thế Tôn! Vì sao? Vì vô tánh nên nói bất sanh bất diệt là tên khác của Như Lai? Đường dịch: Thế Tôn, như trong kinh nói phân biệt nhiếp thủ bất sanh bất diệt, nói đây là tên khác của Như Lai. Thế Tôn! Xin vì con nói bất sanh bất diệt, đây ắt là không có pháp, vì sao nói là tên khác của Như Lai?

Như Thế Tôn nói tất cả các pháp bất sanh bất diệt, nên biết đây ắt rơi trong kiến chấp có không.

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói tất cả pháp bất sanh bất diệt, phẩm có không chẳng hiện.

Đây nạn vấn cho rõ tịch diệt nhất tâm để hiển pháp thân Như Lai lìa tướng danh tự.

Đại Huệ nhân nghe pháp thân Như Lai bất sanh bất diệt, bèn đặt nghi vấn: Như trong kinh một bề nói bất sanh bất diệt, chỉ hiển lý vô tánh mà thôi. Nay lại nói bất sanh bất diệt là tên khác của Như Lai. Song bất sanh bất diệt ắt là vô tánh, vô tánh ắt lìa tướng danh tự. Vì sao nói đây là tên khác của Như Lai? Hơn nữa bất sanh thì rơi vào không, bất diệt thì rơi vào có. Đường dịch: Thế Tôn nói tất cả pháp bất sanh bất diệt, nên biết ắt rơi vào kiến chấp có không.

Vì vậy Thế Tôn đáp: Ta nói tất cả pháp phẩm có không chẳng hiện. Vì sao? Vì bất sanh thì chẳng có, bất diệt thì chẳng không. Chẳng có chẳng không nên không thuộc về có không, nên nói phẩm có không chẳng hiện. Bản Đường dịch: “Hai kiến chấp có không”, có lời hỏi không lời đáp. Bản dịch này có lời đáp không lời hỏi, nên hai bản dịch hỗ tương phát minh.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu tất cả pháp bất sanh, thì không thể nhiếp thọ pháp vì tất cả pháp bất sanh. Nếu trong danh tự có pháp, cúi xin vì nói.

Đây Đại Huệ lại đem có không đặt thành nghi vấn, để rõ quả đức rốt ráo lìa tướng danh tự.

Ý rằng Thế Tôn đã nói pháp có không chẳng hiện, vì chẳng hiện ắt không thể nắm bắt, vậy nên nói không thể nhiếp thọ pháp. Đã không thể được, ắt tựu trung không lập một pháp, vì tất cả pháp bất sanh. Hơn nữa chẳng lập một pháp thì có cái gì là danh tự Như Lai ư? Đây ắt là tự ngữ tương vi. Nếu nói pháp bất sanh là danh tự Như Lai, tợ hồ trong đây lại là pháp có, chẳng thể vượt qua có không. Vì thế nói nếu trong danh tự có pháp, nghĩa này thế nào? Nguyện vì con nói.

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay lành thay! Lắng nghe lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó. Ta sẽ vì ông giải thích rõ.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói Như Lai chẳng phải vô tánh, cũng chẳng phải bất sanh bất diệt nhiếp tất cả pháp, cũng không vì đợi duyên mà bất sanh bất diệt, cũng chẳng phải vô nghĩa.

Đại Huệ! Ta nói danh hiệu ý sanh pháp thân Như Lai. Đường dịch “Ta nói vô sanh tức là tên khác của Như Lai ý sanh pháp thân”. Chỗ bất sanh ấy chẳng phải là cảnh giới của tất cả ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác và hàng Bồ-tát Thất trụ (Hai bản dịch đều nói Thất địa).

Đại Huệ! Bất sanh tức tên khác của Như Lai.

Đây trách Đại Huệ lầm chấp không hiểu ý Phật, nên dùng chánh nghĩa pháp thân để đáp.

Do Đại Huệ nghi bất sanh bất diệt là đoạn diệt, lại nghi bất sanh bất diệt nhiếp tất cả pháp sanh diệt. Ý cho rằng quyết phải đợi duyên sanh diệt chấm dứt mới được bất sanh bất diệt. Nên chỗ này Phật quở rằng cũng chẳng vô tánh, cũng chẳng nhiếp tất cả pháp, cũng

chẳng đợi duyên. Bởi tuy tất cả đều phi mà cũng chẳng phải vô nghĩa. Vì sao? Vì ta nói tất cả pháp đương thể vô sanh tức là tên khác của Như Lai, chẳng phải ngoài chỗ này riêng có. Phàm ý vô sanh, là hàng Bồ-tát Bát địa thật chứng chân như bình đẳng mới có thể thấy rõ. Chẳng phải chỗ của hàng Nhị thừa ngoại đạo có thể đo lường, cũng chẳng phải cảnh giới của hàng Bồ-tát Thất địa. Vĩnh Gia nói: “Nếu thật vô sanh vô bất sanh.” Do vô sanh vô bất sanh, nên nói ý sanh pháp thân. Đã chứng bình đẳng chân như, ắt pháp pháp đều như, do pháp pháp vô sanh đương thể đều như nên vô sanh là tên khác của Như Lai. Đến cảnh giới này, không một vật nào không truyền bá danh hiệu Như Lai, không pháp nào không phô bày hình ảnh Giá-na. Vì thế văn sau dùng nhiều tên để giải thích. Triệu Châu nói: “Lão tăng lấy một cọng cỏ làm thân vàng trượng sáu, lấy thân vàng một trượng sáu dùng làm cọng cỏ. Phật là phiền não, phiền não là Phật”. Nếu chẳng phải là bậc thâm chứng vô sanh tam-muội làm sao dự vào chỗ này?

Đại Huệ, thí như Nhân-đà-la, Thích-già, Bất-lan-đà-la (Phạn ngữ: Thích-ca-đề-bà Nhân-đà-la, Trung Hoa dịch là Đế thích, lại gọi là Phú-lan-đà, lại gọi là Kiều-thi-ca, đều là tên khác của Đế thích) như thế các vật mỗi mỗi đều có nhiều tên, cũng chẳng phải vì nhiều tên mà có nhiều tánh, cũng chẳng phải là không tự tánh.

Đây thí dụ để giải thích Như Lai tuy có nhiều tên mà không có nhiều thể, để hiển chỉ một chân thật.

Đường dịch: Thí như Đế Thích, đất và hư không, cho đến tay chân, tùy mỗi mỗi vật đều có nhiều tên. Chẳng phải nhiều tên mà có nhiều thể, cũng không phải không thể. Do pháp pháp đều chân, nên tên khác mà thể đồng, chỉ cần rõ vô sanh. Thế nên chẳng do tên khác mà thể có khác, thuận theo tên mà riêng sanh dị kiến vậy.

Như thế Đại Huệ, ta ở Sa-ha này (Xưa gọi là Sa-bà, cũng gọi là Sách-ha, Trung Hoa dịch Kham nhẫn) có ba a-tăng-kỳ (Trung Hoa dịch Vô số), trăm ngàn danh hiệu người ngu đều nghe, đều nói tên ta, mà không biết đó là tên khác của Như Lai (Đường dịch: Phàm ngu tuy nghe tuy nói mà không biết là tên khác của Như Lai).

Đại Huệ! Hoặc có chúng sanh biết ta là Như Lai, có khi biết là Nhất thiết trí, có khi biết là Phật, có khi biết là Cứu thế, có khi biết là Tự giác, có khi biết là Đạo sư, có khi biết là Quảng đạo, có khi biết là Nhất thiết đạo, có khi biết là Tiên nhân, có khi biết là Phạm, có khi biết là Tỳ-nữu (Trung Hoa dịch là Đại lực), có khi biết là Tự tại, có khi biết là Thắng, có khi biết là Ca-tỳ-la (tên thành, vì Phật sanh tại thành ấy), có khi biết là Mé chân thật, có khi biết là Nguyệt, có khi biết là Nhựt, có khi biết là Vua, có khi biết là Vô sanh, có khi biết là Vô diệt, có khi biết là Không, có khi biết là Như như, có khi biết là Đế, có khi biết là Thật tế, có khi biết là Pháp tánh, có khi biết là Niết-bàn, có khi biết là Thường, có khi biết là Bình đẳng, có khi biết là Bất nhị, có khi biết là Vô tướng, có khi biết là Giải thoát, có khi biết là Đạo, có khi biết là Ý sanh.

Đại Huệ! Ba a-tăng-kỳ trăm ngàn danh hiệu như thế, không tăng không giảm, thế giới này và thế giới khác, thảy đều biết ta, như trăng trong nước, không ra không vào.

Đây nêu nhiều tên mà thể không khác, chính hiển lìa tướng danh tự.

Do thể không khác, nên như bóng trăng trong nước, không ra không vào. Đó là “một trăng hiện khắp trong tất cả nước, tất cả trăng trong nước nhiếp vào một trăng”, vì không đến đi nên không ra không vào. Bởi pháp thân ứng khắp chúng sanh hiển hiện bình đẳng, mà không có tướng đến đi, chỉ tùy theo chỗ thấy nghe có sai khác. Kinh Hoa Nghiêm phẩm Như Lai danh hiệu nói: Như Lai có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu. Kinh Pháp Hoa phẩm Thọ lượng nói: Ta ở nước khác làm Phật, lại có tên khác, dòng họ không đồng, tên gọi đều khác.

Vì pháp thân vô sanh nên không đâu chẳng sanh, không tên nên không đâu chẳng tên. Vì không đâu chẳng tên nên bất khả đắc mà có tên. Bất khả đắc mà có tên nên lìa danh tự. Chỗ này không phải người ngu biết được.

  • Trên nói về lìa tướng danh tự đã xong. Sau đây lìa tướng ngôn thuyết.

K₂ - Lìa tướng ngôn thuyết

Những người ngu kia, không thể biết ta vì rơi vào nhị biên, song thảy đều cung kính cúng dường ta, mà không khéo biết từ cú nghĩa thú, không phân biệt được tên, không hiểu tự thông, chấp trước các ngôn thuyết chương cú.

Đối với bất sanh bất diệt khởi tưởng vô tánh, không biết danh hiệu sai khác của Như Lai, như Nhân-đà-la Thích-ca, Bất-lan-đà-ca.

Không hiểu chỗ trở về rốt ráo của tự thông, đối tất cả pháp chấp trước theo ngôn thuyết.

Đây nói về pháp thân Như Lai lìa tướng ngôn thuyết.

Bởi danh tự khởi lên từ ngôn thuyết, vì người ngu không rõ được ngôn thuyết tánh không, nên vọng chấp danh tự mỗi mỗi khác. Cho đến đối với pháp thân chân thật tịch diệt vô sanh lìa danh ngôn, mờ mịt không biết. Do không biết điều này, nên vọng chấp có không rơi vào kiến chấp nhị biên. Thế là tuy cúng dường ta, mà không biết rõ trong danh tự cú nghĩa hàm ngụ nhiều tên một thể, vì thế nói không phân biệt tên chỉ giữ tướng sai biệt. Do không hiểu rành về tự thông pháp thân nên chỉ chấp ngôn giáo, mê lầm chỗ chân thật, cho rằng bất sanh bất diệt là không thể tánh. Đâu không biết chính là pháp thân trùm khắp mà thành ra Như Lai có nhiều tên sai biệt, như Nhân-đà-la…

Do không hiểu chỗ trở về rốt ráo của tự thông đến nơi lìa ngôn thuyết, nên nơi tất cả pháp chỉ chấp ngôn thuyết.

Đại Huệ! Những người ngu kia nói như thế này: Nghĩa giống như ngôn thuyết, nghĩa và ngôn thuyết không khác. Vì sao? Vì nghĩa vô thân, ngoài ngôn thuyết lại không có nghĩa khác, chỉ dừng ở ngôn thuyết.

Đại Huệ! Họ bị ác trí thiêu, không biết tự tánh ngôn thuyết, không biết ngôn thuyết sanh diệt còn nghĩa không sanh diệt.

Đại Huệ! Tất cả ngôn thuyết rơi vào văn tự, nghĩa ắt không rơi vì lìa tánh phi tánh, không thọ sanh cũng không thân.

Đường dịch: Vì lìa có lìa không, vì vô sanh vô thể.

Đây nói người chấp ngôn thuyết không đạt được thật nghĩa.

Bởi người ngu vọng cho là nghĩa giống như ngôn thuyết, nghĩa cùng ngôn thuyết không khác. Như thế ắt chỉ có ngôn thuyết mà không thật nghĩa, nên nói vì nghĩa không thân. Vì người này không rõ tự tánh ngôn thuyết, sẽ cho là ngoài ngôn thuyết lại không có nghĩa khác, chỉ dừng nơi ngôn thuyết mà thôi. Sở dĩ như thế, vì họ ngu si ác trí không biết tự tánh ngôn thuyết là pháp sanh diệt mà nghĩa bất sanh diệt. Sở dĩ ngôn thuyết sanh diệt mà nghĩa không sanh diệt, vì ngôn thuyết rơi trong văn tự còn nghĩa không rơi. Nghĩa vượt ra văn tự vì lìa tướng có không, vì vô sanh vô thể nên không rơi.

Đại Huệ! Như Lai không nói pháp rơi trong văn tự, vì văn tự có không không thể được, trừ người không rơi trong văn tự.

Đại Huệ! Nếu có người nói rằng Như Lai nói pháp rơi trong văn tự, thì đó là nói dối, vì pháp lìa văn tự. Cho nên này Đại Huệ, chư Phật chúng ta và các Bồ-tát chẳng nói một chữ, chẳng đáp một chữ. Vì sao?

Vì pháp lìa văn tự, chẳng nói nghĩa không nhiêu ích, vì ngôn thuyết là vọng tưởng của chúng sanh.

Đây nói Như Lai thuyết pháp không rơi trong tướng văn tự.

Sở dĩ không rơi vì pháp lìa tướng có không. Trừ người không rơi trong văn tự, thì nói cùng không nói đều thấu tỏ. Ngoài điều này nếu cho rằng Như Lai có chỗ nói, ắt là phỉ báng Phật, nên nói ắt là nói dối. Do pháp lìa văn tự nên chư Phật Bồ-tát chỉ nói pháp lìa văn tự, nên trước sau không nói một chữ, không đáp một chữ. Vì sao? Vì pháp lìa văn tự vậy.

Hỏi:

Đã không nói một chữ, há không nhiêu ích chúng sanh ư?

Đáp:

Chẳng phải không nói nghĩa nhiêu ích, đối chúng sanh có nói năng chỉ là nói để phá mộng mị vọng tưởng của chúng sanh thôi, chẳng phải thật có pháp có thể nói, vì thế nói ngôn thuyết là vọng tưởng của chúng sanh.

Đại Huệ! Nếu chẳng nói tất cả pháp thì giáo pháp ắt hoại, giáo pháp hoại thì không có chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Nếu không thì ai nói, vì ai?

Đây giải thích nạn vấn.

Nạn vấn rằng: Đã là pháp lìa văn tự thì không pháp để nói, mà Như Lai vì sao lại nói tất cả pháp?

Nên đây giải thích rằng: Vì không pháp để nói, gọi là nói tất cả pháp, là nói chỗ không thể nói.

Nghĩa là tuy không y cứ đường ngôn ngữ, cũng lại chẳng chấp không ngôn thuyết. Nếu tuyệt nhiên không nói, giáo pháp ắt hoại, giáo pháp hoại thì không có chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Nếu hết thảy đều không, ắt hoại tướng pháp giới, thì ai là người thuyết pháp? Vì ai để thuyết pháp? Chính là thật tế lý địa không lập một trần, nơi cửa hóa độ không bỏ một pháp, đây tức là nói mà không có chỗ nói. Há tuyệt nhiên không nói rồi sau mới lìa văn tự ư?

Thế nên, Đại Huệ! Đại Bồ tát chớ chấp trước ngôn thuyết, tùy nghi phương tiện rộng nói kinh pháp. Vì hy vọng và phiền não của chúng sanh không phải một, nên ta và chư Phật vì những chúng sanh có nhiều thứ kiến giải khác nhau mà nói các pháp, khiến lìa tâm ý ý thức, không phải vì chỗ được tự giác thánh trí.

Đây giải thích về chỗ không nói mà nói ở trên là vì người mê, chẳng phải vì người ngộ mà nói.

Nghĩa là các đức Phật Như Lai vốn không pháp có thể nói, chỗ giảng rộng tất cả pháp đều là tùy thuận theo các thứ ưa hiểu của chúng sanh, phá chỗ trông mong và phiền não của họ, vì khiến chuyển tâm ý ý thức. Đó gọi là Phật nói tất cả pháp vì trị tất cả tâm, nếu không tất cả tâm nào dùng tất cả pháp. Nên nói không phải vì chỗ được tự giác thánh trí mà nói, nên bậc Đại Bồ-tát chớ kẹt vào ngôn thuyết.

Đại Huệ! Đối tất cả pháp vô sở hữu, biết tự tâm hiện lượng, lìa hai vọng tưởng (có, không). Các Đại Bồ-tát y nơi nghĩa không y văn tự.

Đây giải thích ý không vì người ngộ mà nói ở trên.

Sở dĩ không vì người được tự giác thánh trí nói, vì họ đã hiểu tất cả pháp vô sở hữu, biết tự tâm hiện lượng, khéo lìa kiến chấp vọng tưởng hai bên có không. Do đây các Bồ-tát chỉ y vào nghĩa, không kẹt nơi ngôn thuyết.

Nếu thiện nam tử thiện nữ nhơn y cứ vào văn tự, tự hoại đệ nhất nghĩa, cũng không thể giác ngộ người, rơi vào chỗ ác kiến tương tục, người này vì chúng sanh nói, đã không khéo biết rõ tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, cũng không biết chương cú.

Đây nói người mê, tự tha đều tổn.

Đường dịch: Người y vào văn tự rơi vào ác kiến, chấp trước tự tông mà khởi lên ngôn thuyết, không thể khéo rành tất cả pháp tướng, văn tự chương cú. Đã tự tổn hoại, cũng hoại người khác, không thể khiến người tâm được giải ngộ.

Nếu khéo biết tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, thông đạt chương cú, đầy đủ tánh nghĩa, người ấy ắt có thể dùng chánh vô tướng lạc mà tự vui, Đại thừa bình đẳng để kiến lập chúng sanh.

Đây nói người ngộ, mình người đều ích lợi.

Đường dịch: Cũng hay khiến người khác an trụ Đại thừa. Chánh vô tướng lạc là tự giác thánh trí thiện lạc, để phân biệt không phải là tam-muội của hàng Nhị thừa ngoại đạo thiên tà.

Trụ vào chánh vô tướng lạc tức gọi là nhiếp thọ Đại thừa, chư Tổ đều chứng sâu vô tướng tam-muội này, nên có thể dùng pháp ly văn tự kiến lập chúng sanh.

Đại Huệ! Người nhiếp thọ Đại thừa tức là nhiếp thọ chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn. Nhiếp thọ chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn tức là nhiếp thọ tất cả chúng sanh, nhiếp thọ tất cả chúng sanh tức là nhiếp thọ chánh pháp, nhiếp thọ chánh pháp tức Phật chủng không đoạn, Phật chủng không đoạn tức là hay liễu tri, được vào chỗ thù thắng (Ngụy dịch: Sanh tất cả chỗ thắng diệu. Đường dịch: Ắt được chỗ thắng diệu). Đại Bồ-tát biết được chỗ thù thắng sẽ được hóa sanh, dựng lập Đại thừa, được mười lực tự tại hiện các sắc tượng, thông đạt tất cả điều trông mong, hình sắc, thể loại của chúng sanh, các tướng phiền não, thuyết pháp như thật. Như thật là không khác (Đường dịch: Pháp chân thật là không riêng không khác). Như thật là tướng không đến không đi, tất cả hư dối dừng, gọi là như thật. Đại Huệ, thiện nam tử thiện nữ nhơn, không nên nhiếp thọ chấp trước theo ngôn thuyết, vì người chân thật lìa văn tự.

Đây nói khéo biết pháp như thật, thì có thể đầy đủ tất cả pháp thế và xuất thế.

Nghĩa là người khéo biết rõ pháp vô sanh như thật, thì có thể đầy đủ pháp thế xuất thế, dựng lập chánh pháp, nối huệ mạng Phật, hay khiến cho Phật chủng không đoạn dứt, liền sanh trong nhà Phật, nên nói được sanh chỗ thắng diệu.

Công năng tự lợi tròn đầy cũng tức có thể khiến chúng sanh an trụ Đại thừa, mà dùng thập lực phổ hiện sắc thân, tùy theo chỗ hiểu và ưa thích của chúng sanh, hợp thời hợp cơ nói pháp như thật, mà không có tất cả tướng đến đi. Đây đều là lợi ích của sự khéo biết như thật lìa văn tự. Thế nên người tu hành cần nhất là chớ chấp trước theo ngôn thuyết.

Đại Huệ, ví như vì người ngu dùng ngón tay để chỉ vật, người ngu nhìn ngón tay không biết nghĩa thật. Như thế người ngu theo ngón tay ngôn thuyết mà nhiếp thọ chấp trước rốt cùng không bỏ, trọn không thể được chỗ thật nghĩa đệ nhất lìa ngón tay ngôn thuyết.

Đây thí dụ về lỗi người ngu chấp ngôn thuyết.

Kinh nói: Pháp ta nói như ngón tay chỉ mặt trăng, rời ngón tay mới có thể biết mặt trăng, nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng, ắt là có hai lỗi, vì vậy nói Chấp ngón tay ngôn thuyết, rốt ráo không bỏ, trọn không thể được thật nghĩa đệ nhất lìa ngón tay ngôn thuyết.

Đại Huệ, thí như trẻ nít, cần phải ăn thức ăn chín, không thể ăn đồ sống, nếu ăn đồ sống thì sẽ mê sảng, vì không biết phương tiện thứ lớp làm cho chín. Đại Huệ! Như thế, bất sanh bất diệt không biết phương tiện tu, ắt là bất thiện. Cho nên phải khéo tu phương tiện, chớ rơi vào ngôn thuyết, như nhìn ngón tay.

Đây dùng thí dụ giải thích thí dụ, để rõ nghĩa vong ngôn khế chứng.

⏯️


NGUỒN

🔗


GHI CHÚ

Chú thích:


Luận giải liên quan